"Nghệ nhân" thuyền thúng

"Nghệ nhân" thuyền thúng


Năm 1965, ông cùng vợ vào Nha Trang lập nghiệp cũng với nghề làm thuyền thúng. Nghề không giàu, lần lượt bao nhiêu người chuyển sang công việc khác, ngay cả bảy đứa con đủ trai đủ gái của ông cũng chẳng ai chịu theo nghề. May ra là có cô con dâu út, tên Ngô Thị Tường (29 tuổi), quê tận Phan Rang - thương cha chồng lủi thủi làm một mình, đang tập theo nghề.

Nhà ông Trần Quá ở Cù Lao Trung, phường Vĩnh Thọ, Nha Trang. Nhưng để có chỗ làm nghề, hằng ngày ông ra bãi cát dưới chân cầu Trần Phú để đan những chiếc thuyền thúng. Bãi cát trắng mịn, gió biển nơi cửa sông thổi vào lồng lộng. Khách du lịch tò mò tìm tới, ngắm nhìn thích thú khi nhìn ông tạo ra những chiếc thuyền thúng. Có lẽ cũng quen với sự tò mò của mọi người, đôi bàn tay nhỏ, đen gân guốc thì vẫn thoăn thoắt. Ông làm việc say mê như một nghệ nhân.

Tôi hỏi ông: "Chú có biết lịch sử chiếc thuyền thúng không? ". Ông trả lời theo cách của mình: "Biết chớ. Năm đó có một ông tướng bị kẹt trên đảo cùng với quân lính. Ông đã sai quân chặt che đan thúng làm thuyền vượt biển đánh giặc Pháp". Ông tướng nào, đảo nào ông cũng chẳng nhớ, nhưng chuyện này ông thường kể cho khách du lịch nghe. Còn tôi thì qua tài liệu được biết rằng chiếc thuyền thúng ra đời bởi vào thời Pháp thuộc, khi ấy thực dân Pháp áp dụng rất nhiều thứ thuế đánh vào dân nghèo. Chiếc thuyền mỏng manh của những ngư dân vẫn không thoát được thuế nặng, thế là họ đã nghĩ ra chiếc thuyền thúng, vì thuyền thúng không bắt nộp thuế được. Trải gần 100 năm, nhưng người làm thuyền thúng ngày càng vắng, làm thuyền cho đẹp càng ít người làm được hơn, bởi làm thuyền cũng chỉ đủ miếng ăn, nhưng cả ngày phải phơi nắng mưa.

Mỗi năm ông Quá chỉ nghỉ vài ngày Tết, còn bao nhiêu ngày trong năm đôi tay ông đều bận rộn với việc đan thuyền thúng, mà tên gọi khác là Thúng chai (chiếc thúng trét chai). Ông nói việc đầu tiên chính là lựa tre . Tre non, ngọn cụt không lấy, tre có tổ kiến cũng không lấy. Loại tre làm thuyền thúng phải là loại tốt, đem về vót thành nan, phơi khô (chỉ lấy lớp bên ngoài). Bài học lên được cho vòng thúng tròn, đều khít, sau đó lên vành là một quá trình vài năm, còn để cho chiếc thúng đẹp lại là chuyện "tài hoa".

Ðôi tay tài hoa của ông có thể tạo ra những chiếc thuyền thúng theo ý người đặt hàng. Cũng là chiếc thuyền thúng, nhưng tuổi thọ của chiếc thuyền thúng ông Quá làm ra lâu hơn nhiều nơi khác. Ðó là lý do tại sao nơi ông làm nghề không bảng hiệu, con đường  vào cũng khó đi, vậy mà khách hàng tận Tuy Hòa, Phú Yên tìm tới đặt hàng. Còn ngay cả các làng đảo ở Nha Trang gần như đều dùng thuyền thúng do ông làm. Ðộc đáo hơn, ngay chân cầu chữ Y, TP Hồ Chí Minh có một chiếc thuyền thúng chu vi tám mét, trở thành một chiếc thuyền cà-phê có bàn ngồi ở giữa chính là "tác phẩm" của ông Trần Quá.

Giá cả của những chiếc thuyền thúng tính theo mét. Thuyền chu vi dưới 5 mét giá 50 nghìn đồng/m, còn chu vi lớn hơn thì giá dao động đến 60 nghìn đồng/m. Ðơn giản là thúng rộng, tre cần phải dài hơn, giá tre cao hơn. Trung bình mỗi chiếc thuyền ông làm có giá từ 500-600 nghìn đồng (kể cả trét dầu). Mỗi chiếc thuyền thúng phải mất 5 ngày mới hoàn thành. Ông cười: "Vì thế mà con cái chẳng chịu theo nghề". Ðiều ông vui chính là những người khách nước ngoài khi thăm nơi làm thuyền thúng của ông, do các tour du lịch đưa đến, họ đặt những chiếc thuyền thúng "bỏ lọt gầm máy bay" đem về làm kỷ niệm. Cả cuộc đời ông dễ chúng có cả mấy nghìn chiếc thuyền thúng mang dấu ấn của ông đi mọi nơi.

Có thể bạn quan tâm