Đây là nhận định của các chuyên gia kinh tế, nhà nghiên cứu khoa học tại cuộc hội thảo “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” do Học viện Chính sách và phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức sáng nay 21-5 tại Hà Nội.
Vòng xoáy lạm phát cao - tăng trưởng thấp
Phân tích diễn biến lạm phát và tăng trưởng GDP từ năm 1986 đến năm 2012, TS Nguyễn Thạc Hoát, Trưởng khoa Tài chính – Tiền tệ (Học viện Chính sách và Phát triển) chỉ ra rằng, chu kỳ vòng xoáy tăng trưởng thấp và lạm phát cao ở Việt Nam lặp lại trong suốt cả thời kỳ từ trước đến nay với chu kỳ ngày càng rút ngắn, đặc biệt từ năm 2004 trở lại đây hình thành vòng xoáy ba năm một lần theo đúng quy luật lạm phát hai năm tăng, một năm giảm.
Cơ chế hình thành vòng xoáy này ở Việt Nam là do chính sách tăng trưởng cao làm cho tổng cầu tăng nhanh, tất yếu tăng giá và áp lực tăng lạm phát cầu kéo. Không chỉ vậy, yêu cầu tăng trưởng cao sẽ tạo ra áp lực tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao, tất yếu xảy ra lạm phát tiền tệ. Lạm phát cầu kéo cộng hưởng với lạm phát tiền tệ và lạm phát cơ cấu sẽ làm bùng phát lạm phát cao.
Theo TS Nguyễn Thạc Hoát, khi lạm phát cao nếu muốn giảm lạm phát quá nhanh và quá thấp thì buộc phải thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ thắt chặt quá mức, làm cho tổng cầu giảm đột ngột và quá sâu. Hậu quả, giảm tổng cầu làm suy thoái kinh tế và giảm tăng trưởng kinh tế. Và khi kinh tế suy thoái, lại lặp lại chính sách tăng trưởng cao và vóng xoáy lạm phát cao và tăng trưởng thấp không bao giờ chấm dứt.
Kết quả thực nghiệm bằng các mô hình kinh tế lượng về mối quan hệ lạm phát và tăng trưởng ở Việt Nam cho thấy, lạm phát tác động tới tăng trưởng cả trong ngắn hạn và dài hạn. Khi lạm phát quá cao sẽ tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Ngược lại, những cú sốc về tăng trưởng có thể làm tăng lạm phát nhưng xu hướng trong dài hạn ít hơn trong ngắn hạn. Nghĩa là muốn tăng trưởng cao tất yếu phải chấp nhận lạm phát ở mức độ nhất định nào đó.
Ngưỡng lạm phát cho tăng trưởng
Cùng chung quan điểm này, TS Nguyễn Bích Lâm, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê cho rằng, xem xét mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng giai đoạn 1990 – 2012 cho thấy, giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở nước ta có mối quan hệ tỷ lệ nghịch: lạm phát giảm và ổn định tương đối dẫn đến tăng trưởng kinh tế cao. Đối với các nước trên thế giới, có tồn tại ngưỡng lạm phát đối với tăng trưởng để khi lạm phát vượt qua ngưỡng đó sẽ tác động xấu đối với tăng trưởng. Cụ thể, với các nước công nghiệp, ngưỡng lạm phát từ 1% đến 3%, còn với các nước đang phát triển, ngưỡng đó từ 11%-12%.
Việc xác định chính xác ngưỡng lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam rất khó và phức tạp, đòi hỏi phải tính toán thận trọng, phù hợp với quy mô, cơ cấu, luật pháp và thực tiễn kinh tế hiện nay của nước ta cũng như tính đến cả bối cảnh kinh tế thế giới trong những năm tới. Ngưỡng lạm phát đối với tăng trưởng của nước ta, theo TS Nguyễn Bích Lâm, nên ở mức một con số.
Còn theo phân tích của TS Nguyễn Thạc Hoát, quan điểm chính sách tăng trưởng và lạm phát hiện nay của Việt Nam theo định hướng “tăng trưởng cao, lạm phát thấp” là đúng đắn nhưng trong ngắn hạn và trung hạn, rất khó có thể điều hành để đạt được cả hai mục tiêu trên. Nếu bằng mọi giá phải đạt được đồng thời cả hai mục tiêu bằng quyết tâm chính trị thì Việt Nam sẽ lại rơi vào vòng xoáy lạm phát cao, tăng trưởng thấp. Trong điều kiện suy giảm kinh tế, doanh nghiệp quá khó khăn như hiện nay thì nên ưu tiên tăng trưởng để đạt mục tiêu kế hoạch năm năm do Đảng và Quốc hội đề ra và phải chấp nhận lạm phát ở ngưỡng tối ưu trong giai đoạn 2013 – 2015 là 7 – 7,5%.
Tuy nhiên, TS Nguyễn Thị Kim Thanh, Viện trưởng Chiến lược ngân hàng lại cho rằng, hiện tại Việt Nam vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào về ngưỡng hiệu quả cho lạm phát. Vì vậy, để có thể kiểm soát và phát huy tính tương hỗ trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng một cách có hiệu quả, không để lạm phát trở thành vấn đề bất lợi đối với nền kinh tế nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng trong dài hạn thì cần thiết phải có những nghiên cứu bài bản, xây dựng mô hình tính toán và dự báo được ngưỡng hiệu quả cho lạm phát, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng bền vững trong mỗi giai đoạn phát triển. Bên cạnh đó, để giảm sức ép lên lạm phát, nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, cần tập trung thực hiện hiệu quả tái cơ cấu nền kinh tế, đặc biệt là tái cơ cấu đầu tư công, nâng cao chất lượng quản lý và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
Kiểm soát lạm phát phải được được đặt trong bối cảnh bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững. Lạm phát được kiểm soát ở một tỷ lệ thích hợp cũng góp phần tạo động lực hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Lạm phát quá cao hay quá thấp đều tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Muốn đạt được mức tăng trưởng cao trong trung và dài hạn thì trong ngắn hạn phải ổn định nền kinh tế, đầu tư nâng cao trình độ lao động, đổi mới phương thức lao động, hiện đại hóa công nghệ, nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo tiền đề cho tăng trưởng sau này.
Chính phủ cần thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô một cách kiên định, tránh rơi vào tình trạng theo đuổi các mục tiêu ngắn hạn mà bỏ qua các mục tiêu trung, dài hạn. Theo đó, các giải pháp vĩ mô kiểm soát lạm phát gắn với duy trì tăng trưởng kinh tế cần được thực hiện đồng bộ, phối hợp nhịp nhàng với nhau trong bộ ba chính sách then chốt là chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, tín dụng và chính sách tỷ giá hối đoái.