Nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam

Gia tăng tỷ lệ nội địa hóa là bài toán thay thế nguồn hàng nhập khẩu, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực công nghệ, quản trị chất lượng và khả năng cung ứng ổn định. Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp cần xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.

Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp cần xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. (Ảnh: KIM DUNG)
Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp cần xây dựng hệ sinh thái liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. (Ảnh: KIM DUNG)

Thu hẹp khoảng cách giữa doanh nghiệp Việt Nam và chuỗi cung ứng FDI

Tại diễn đàn “Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Việt Nam nhằm thúc đẩy nội địa hóa và phát triển chuỗi cung ứng bền vững”, các ý kiến cho rằng, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa phải gắn với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hiệu quả vận hành toàn bộ chuỗi cung ứng.

Theo ông Chu Việt Cường, Quyền Giám đốc Trung tâm hỗ trợ phát triển công nghiệp (Bộ Công thương), khu vực FDI đóng góp tới 77% kim ngạch xuất khẩu và 82,8% vốn vào ngành chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, giá trị gia tăng nước ngoài trong xuất khẩu của Việt Nam lên tới 48,5%. Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cũng giảm từ 35% năm 2009 xuống còn 18% năm 2023.

Những con số này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa năng lực sản xuất trong nước và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tỷ lệ nội địa hóa ở một số ngành trọng điểm vẫn còn hạn chế, như điện tử đạt 35%, cơ khí chế tạo đạt 25-30% và ô-tô con đạt 15-20%. Năng lực công nghệ và quản trị của doanh nghiệp cũng là điểm nghẽn.

Ông Chu Việt Cường chia sẻ, khảo sát 7.000 doanh nghiệp cho thấy hơn 30% sử dụng máy móc thủ công, hơn 50% sử dụng thiết bị bán tự động, trong khi tỷ lệ ứng dụng robot chưa đến 10%; ngoài ra, chỉ 20% doanh nghiệp có chứng nhận ISO 9000 và 9% có chứng nhận ISO 14000.

Thực tế này đặt ra yêu cầu chuyển trọng tâm từ thu hút đầu tư nước ngoài sang nâng cao năng lực kết nối giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa. Nếu doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, chi phí, tiến độ và tính ổn định, cơ hội tham gia chuỗi cung ứng khó chuyển hóa thành giá trị gia tăng lớn hơn cho nền kinh tế.

ndo_br_ong-chu-viet-cuong.jpg
Ông Chu Việt Cường, Quyền Giám đốc Trung tâm hỗ trợ phát triển công nghiệp (Bộ Công thương). (Ảnh: KIM DUNG)

Ông Chu Việt Cường cho biết, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 theo Quyết định 929/QĐ-TTg xác định hướng hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm theo chuỗi và cụm sản phẩm; lấy kết quả đầu ra như tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng làm thước đo; đồng thời gắn phát triển công nghiệp hỗ trợ với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Mục tiêu đến năm 2035 là nâng tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử lên 35-40%, cơ khí chế tạo đạt 50%, ô-tô đạt 32%, dệt may và da giày đạt 70-75%, công nghệ cao đạt 20%.

Để hiện thực hóa các mục tiêu này, doanh nghiệp cần ưu tiên nâng cấp công nghệ, chuẩn hóa hệ thống quản lý chất lượng, đào tạo nhân lực và củng cố năng lực tài chính. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ phải gắn với nhu cầu thực tế của thị trường, giúp doanh nghiệp từng bước đáp ứng tiêu chuẩn của khách hàng thay vì đầu tư dàn trải.

Từ thực tiễn sản xuất, bà Nguyễn Nguyệt Anh, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Dụng cụ An Mi cho rằng, sở hữu máy móc hiện đại mới chỉ chứng minh khả năng sản xuất sản phẩm, chưa đủ để trở thành nhà cung ứng đáng tin cậy cho các tập đoàn FDI. Điều khách hàng cần không chỉ là sản phẩm đạt yêu cầu ở một thời điểm, mà là khả năng duy trì chất lượng đồng đều, giao hàng đúng hẹn và kiểm soát chi phí trong suốt quá trình hợp tác.

Theo bà Nguyễn Nguyệt Anh, doanh nghiệp phải chuyển từ kiểm tra chất lượng ở khâu cuối sang kiểm soát phòng ngừa xuyên suốt, từ nguyên liệu đầu vào đến từng công đoạn sản xuất. Khi phát sinh sai lỗi, khả năng truy xuất nguyên nhân và xử lý nhanh là yếu tố quan trọng để hạn chế ảnh hưởng đến khách hàng.

Bên cạnh chất lượng, chi phí và tiến độ giao hàng cũng là những yêu cầu không thể tách rời. Doanh nghiệp cần cải tiến quy trình, giảm lãng phí, nâng cao năng suất và ứng dụng công nghệ số trong quản trị sản xuất. Việc đầu tư thiết bị phải phù hợp với sản phẩm, thị trường và năng lực thực tế, tránh chạy theo công nghệ mà không tạo ra hiệu quả tương xứng.

Xây dựng hệ sinh thái liên kết để gia tăng giá trị Việt Nam

Một trong những hướng đi quan trọng để nâng cao năng lực nội địa hóa là thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp trong nước. Với những đơn hàng lớn, yêu cầu kỹ thuật cao và tiến độ chặt chẽ, một doanh nghiệp đơn lẻ có thể chưa đủ khả năng đáp ứng toàn bộ yêu cầu. Nhưng thông qua chuyên môn hóa và phối hợp sản xuất, các doanh nghiệp có thể bổ trợ về công nghệ, thiết bị, nhân lực và năng lực kiểm soát chất lượng.

Theo bà Nguyễn Nguyệt Anh, doanh nghiệp có thế mạnh về gia công cơ khí có thể kết hợp với các đơn vị chuyên xử lý bề mặt, nhiệt luyện, khuôn mẫu hoặc kiểm tra chất lượng để hình thành năng lực cung ứng hoàn chỉnh hơn. Điều kiện tiên quyết là các bên phải thống nhất tiêu chuẩn, tiến độ, cơ chế kiểm soát và trách nhiệm khi phát sinh sự cố.

ndo_br_ong-nguyen-van.jpg
Ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp Hỗ trợ thành phố Hà Nội (HANSIBA). (Ảnh: KIM DUNG)

Từ góc độ hiệp hội, ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp Công nghiệp Hỗ trợ thành phố Hà Nội (HANSIBA) nhấn mạnh, quan hệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước cần vượt khỏi giao dịch mua bán đơn thuần để tiến tới hợp tác chiến lược, cùng đầu tư và phát triển.

Theo ông Nguyễn Vân, hoạt động kết nối cần đi vào nhu cầu cụ thể của doanh nghiệp. Các tập đoàn FDI cần công khai tiêu chuẩn kỹ thuật, điều kiện lựa chọn nhà cung ứng và kế hoạch sản xuất; trong khi doanh nghiệp Việt Nam phải minh bạch năng lực, quy mô và chất lượng. HANSIBA đã kết nối 22 doanh nghiệp FDI đến khảo sát trực tiếp tại Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội và các nhà máy hội viên, qua đó thúc đẩy kết nối giữa nhu cầu của khách hàng với năng lực sản xuất trong nước.

Bên cạnh đó, ông Nguyễn Vân kiến nghị thiết lập gói tín dụng dài hạn 12-15 năm, với lãi suất ưu đãi 6-8%/năm, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ. Để mở rộng liên kết, cơ quan quản lý và hiệp hội cần làm tốt vai trò kết nối cung-cầu, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, đào tạo nhân lực và hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật. Các tập đoàn FDI cũng cần chủ động đánh giá, hướng dẫn và tạo cơ hội để nhà cung ứng trong nước tham gia thử nghiệm, nâng cấp năng lực và tiếp cận những đơn hàng ổn định.

Nội địa hóa vì thế không nên được nhìn nhận đơn thuần là việc tăng tỷ lệ sản phẩm sản xuất trong nước. Giá trị cốt lõi nằm ở khả năng doanh nghiệp Việt Nam cung ứng sản phẩm đạt chuẩn, có chi phí hợp lý, giao hàng đúng hạn và duy trì chất lượng ổn định. Khi năng lực doanh nghiệp được nâng lên, liên kết giữa các nhà cung ứng được củng cố và quan hệ hợp tác với khu vực FDI trở nên thực chất hơn, nội địa hóa mới có thể trở thành động lực nâng cao sức cạnh tranh của nền công nghiệp Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm