Gặp thương gia na bản
Gần 9 giờ tối, cạnh gầm cầu Long Biên, con phố hẹp Hồng Hà chạy ngang mấy trục cửa khẩu sông Hồng thuộc phường Phúc Tân (quận Hoàn Kiếm) im ắng khác với cảnh ồn ào náo nhiệt buổi ban chiều. Người nông dân Nông Văn Lợi, 40 tuổi, dân tộc Nùng, ở thôn Đồng Ngầu, xã Cai Kinh, huyện Hữu Lũng (Lạng Sơn) tất bật khoát tay làm hiệu cho chiếc xe tải lùi sát ki- ốt để bốc nốt mấy thùng xốp xếp đầy na.
Độc chiếc quần “ngố” cộc nhiều túi, mồ hôi ướt đẫm chiếc may ô dệt kim, chàng thanh niên bản vuốt mồ hôi, cười tươi: Hôm nay, đúng rằm tháng bảy, hàng bán hết sạch. Còn mấy “xốp” nữa khách đặt trước, bốc nốt, rồi người và xe về luôn!
Mang danh “nông dân triệu phú” ở một vùng “vựa na” của huyện, gia đình anh Lợi sở hữu khoảng 2.500 cây na dai trong vườn và trên khoảnh đất rộng men sườn núi. Năm nay, tại chợ na ven đê sông Hồng, có ngày anh Lợi bán tới bốn, năm tạ na, nhiều nhất trong số bà con các bản Đồng Ngầu, Ba Nàng, Làng Giữa mang na về Hà Nội. Khoát tay chỉ dãy ki- ốt san sát bên đường, anh Lợi cho biết: Tháng 8, tháng 9 rộ vụ na, từ sáng đến quá trưa, bà con ba thôn dọc quốc lộ ở Cai Kinh “gom” na vườn nhà chất đầy hơn hai chục xe tải về chợ đầu mối Long Biên. Chập tối, đã có mấy xe khách chờ sẵn, đón tầm… 200 “nhân viên bán na” về bản (cách thủ đô gần 100km), kịp chuyến hôm sau!
Từ dãy chợ đầu mối sát chợ Long Biên này, song hành cùng loại na trồng trên đất Lục Nam (Bắc Giang), Chi Lăng (Lạng Sơn), na dai Cai Kinh lâu nay rong ruổi cùng gánh hàng rong, sạp hàng hoa quả trên từng hẻm nhỏ, phố nhỏ Hà Nội, theo xe chạy tuyến về đến tay người tiêu dùng Hà Tây (cũ), Thái Bình, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An…
“Thỉnh thoảng qua khách buôn chuyến, na bản lên tận cửa khẩu Tân Thanh, qua bên kia biên giới. Lâu lâu lại “đi” máy bay vào Sài Gòn, vì trong đó hết mùa na”. Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Cai Kinh Nông Văn Điềm, 33 tuổi, dịp trung tuần tháng 8 về thành phố bán na, nói thêm.
Được biết, nông dân Nông Văn Lợi là người góp công đầu đưa thương hiệu quả na bản địa vùng núi đá vôi cằn khô từ thôn xóm Cai Kinh ra thị trường thủ đô. Chuyện là 13 năm về trước, hai chàng thanh niên Lợi và Điềm có vườn na lớn nhất xã lọ mọ ra chợ Long Biên, và nhận ra một điều, bà con nông dân chịu thiệt nhiều quá. Nguyên nhân cơ bản dễ nhận ra nhất là từ vườn nhà đến người tiêu dùng, quả na qua quá nhiều khâu trung gian. Anh Điềm nhớ lại lần đầu đưa na bản ra phố: “Tại vườn, na bán đổ đồng chỉ được 3- 4 nghìn đồng/kg, “bèo” lắm. Nếu chịu khó đóng hộp, bắt xe về Hà Nội, “bán nhẹ” cũng 8- 10 nghìn đồng/kg. Trừ chi phí xe cộ đi, vẫn lãi hơn”. Sau lần đó, hai thanh niên xóm bản quyết định thuê gian hàng nhỏ nơi một thời là “chợ Gạo”, “chợ Chó” thuộc phường Phúc Tân, vừa bán, vừa thu mua giúp bà con.
Đến nay, bà con Cai Kinh chủ động mùa vụ, thời gian thu hoạch na, sắm được xe tải để vận chuyển, lại được khách hàng tín nhiệm, quả na rừng và hương vị ngọt thanh của nó trở thành cây xóa đói, giảm nghèo, giúp không ít hộ trong xã vã nhiều xã khác trong tỉnh vươn lên làm giàu.
Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ, diện tích trồng na của hai huyện Hữu Lùng và Chi Lăng lên tới hơn 1.800 ha, sản lượng bình quân hơn 5.500 tấn/năm; tổng giá trị thu nhập 50- 60 tỷ đồng. Chủ tịch Hội Nông dân xã Cai Kinh Ngô Tuấn Triệu nhẩm tính, với tổng diện tích gần 140 ha trồng na, ngót 1000 tấn na quả/ năm, hằng năm 370 hộ trồng na ở Cai Kinh thu về hơn ba tỷ đồng. “ Người dân trồng na giờ nhà nào cũng sắm xe máy, máy cày nhỏ làm nương, làm ruộng. Như anh Lợi từ bán na đã mua xe tải chạy hàng và kinh doanh dịch vụ thương mại”. Anh Triệu nói.
Tầm nhìn cho quả na rừng
Quả na dai Cai Kinh được bà con địa phương mang về bán tại thị trường Hà Nội và các tỉnh lân cận thực sự mang lại hiệu quả kinh tế, tạo ra diện mạo mới cho xã miền núi. Quan trọng hơn, người dân bản ở đây đã vượt lên chính mình- như anh Nông Văn Lợi bày tỏ, đã “bỏ đi tâm lý trông chờ, mặc cảm tự ti cố hữu” bao đời, quanh năm bám vườn, bám bản trồng na, mà không hề biết mang quả na ra phố bán!
Nay thì khác. Dịp hè oi ả gần dãy phố cổ Hà Thành, phiên chợ na ven đê hằng ngày tầm 3- 4 giờ chiều, suýt soát 100 người dân thôn Đồng Ngầu, và hơn 100 người dân hai thôn Ba Nàng, Làng Giãn đón xe về “bán buôn” hàng chục tấn na tại chợ đầu mối. Theo cách đó, người trồng na chủ động việc trồng hái và tiêu thụ sản phẩm. Lượng na chuyển về Hà Nội có lịch rõ ràng, được đặt hàng trước nên không bị “ế”, bị “ép” giá. - Đây là cách làm đột phá, là điều không dễ dàng với người dân bản làng vùng sâu, vùng xa nhiều xóm bản trong huyện, trong tỉnh. Lãnh đạo Hội Nông dân xã Cai Kinh bộc bạch như vậy.
Na xứ Lạng từng bước chinh phục thị trường khó tính ở thủ đô. Dẫu vậy, con đường gây dựng thương hiệu cho quả na và một số loại cây ăn quả ở địa phương vẫn còn khó khăn. Chủ tịch UBND xã Cai Kinh, ông Hoàng Văn Hùng nói, bà con mong quả na được sử dụng lâu hơn, bán được giá cao. Điều đó phụ thuộc vào cơ hội xuất khẩu na hay tiếp cận kỹ thuật bảo quản quả na- điều vẫn nằm ngoài tầm với của xã và người nông dân. Từ mối quan hệ trực tiếp, bà con Cai Kinh mới chỉ bán thử cho khách hàng Trung Quốc vài chuyến nhỏ dọt. “Chúng tôi cần cơ quan chức năng ngành thương mại tìm giúp thị trường bên ngoài, cung cấp thông tin nhu cầu của bạn hàng. Nông sản xuất khẩu được thì mới chóng khá lên được”. Ông Hùng nói thêm.
Qua trao đổi, lãnh đạo xã Cai Kinh vẫn còn băn khoăn chuyện làm thế nào phát triển kinh tế- xã hội bền vững cho bốn nghìn bà con trong xã. Đến nay, mới chỉ gần 400/ 930 hộ dọc bên đường quốc lộ hưởng lợi hiệu quả kinh tế từ cây na. Bảy thôn, xóm khác dọc hai bờ sông Thương cách biệt với tuyến đường lớn, đất không phù hợp với cây na, bà con trông chờ vào các loại cây truyền thống như đỗ tương, keo, bạch đàn, nhất là vườn vải rộ lên trong những năm qua. Một vấn đề đáng lo ngại, Chủ tịch Hội Nông dân Ngô Tuấn Triệu cho biết, từ năm nay, do giá cả bấp bênh, chính bà con vùng nghèo lại “quay lưng” lại vườn vải của gia đình mình.
Con đường đất chênh vênh leo mấy quả đồi dẫn khách vào tận xóm Vân Tảo (xã Cai Kinh) nơi cách đây hơn 40 năm là vùng khai hoang của người dân. Hơn chục năm qua, hơn 80 hộ dân đầu tư công sức, tiền của gây dựng mô hình VACR (vườn- ao- chuồng- rừng), nhà nhà lập vườn vải mong đổi đời khi vải bán sang thị trường láng giềng. Nay dọc bên đường xóm, mấy vườn vải cao vượt đầu người cỏ mọc um tùm, một số vườn khác vải trên đồi bị chặt trơ gốc, xếp thành đống như củi rừng. Cạnh luống đất cày dở, nông dân Nguyễn Văn Toàn, 57 tuổi, mắt nhìn nuối tiếc khu đồi vải rộng ngót ba ha, vừa mới bị đốn hạ tầm một nửa để trồng keo, bạch đàn.
“Bỏ bao công sức hơn chục năm nay, giờ đốn chặt thế ai mà không đau xót”! Ông Toàn than thở, tiếc vậy vẫn chặt, vì tiền bán vải không đủ chi phí thuê nhân công thu hái và giá cả vật tư, phân bón leo thang không ngưng nghỉ suốt từ cuối năm ngoái tới giờ… “Cả xã trồng hơn 200 ha vải có ít đâu! Hơn chục gia đình riêng xóm này mạnh dạn vay vốn ngân hàng đầu tư cho vườn vải, năm ngoái thành con nợ cả”. Giọng Chủ tịch Hội Nông dân xã trầm xuống.
Dù may mắn hơn những hộ trồng vải, số hộ trồng na như anh Lợi, anh Điềm năm nay cũng phải đối mặt cơn “bão giá”, từ các loại phân bón như lân, ka- li, đạm, đến các loại thuốc trừ sâu, rồi nhân công thu hái đều tăng. Quả na dai Cai Kinh năm nay được mùa, đẹp quả nên dễ bán. Tuy vậy, mấy ông chủ trẻ xóm bản dường như vẫn chưa bằng lòng. Năm ngoái, anh Lợi là người đầu tiên ở xã áp dụng kỹ thuật trồng 200 cây na trái vụ, thu về tầm một tấn quả.
- Đến tháng 10, 11 không ai có na bán. Mình có na bán, ít thì được gấp rưởi, nhiều thì gấp đôi giá như bây giờ. Năm nay tôi đầu tư thêm na trái vụ, và đang nuôi thử mấy cặp nhím sinh sản nữa. Hết tuần trà đá chợ đêm sau một ngày bán na, anh Nông Văn Lợi bật mí như vậy.