Ngay cái tên Pha Long - một xã giáp biên của huyện cũng vậy, các cụ bảo xưa kia đây là xứ Hoa Lùng nghĩa là Rồng Hoa, vì ở đây có một phiến đá to nhiều mầu sắc, dáng dấp như một con rồng đứng sừng sững giữa các thửa ruộng bậc thang. Sau phiên âm theo lối Hán - Việt thành Pha Long. Song dù là Mưng Khang hay Mường Khương, Hoa Lùng hay Pha Long thì nơi đây vẫn là vùng đất của thanh bình, của những huyền thoại lãng mạn từ ngàn xưa. Như nơi có tên gọi là Văng Leng - vũng nước giữa trưa, kia chẳng hạn. Huyền thoại kể rằng ngày xửa ngày xưa có một chàng trai người Nùng trên đường đi chợ, dừng chân bên vũng nước vào lúc giữa trưa thì gặp một cô tiên đang tắm. Từ đó trưa nào chàng trai cũng đến bên vũng nước, mê mải ngắm nhìn đến lúc cô tiên về trời mới chịu ra về, chàng ngắm mãi đến già mà làm thành tên gọi Văng Leng.
Tôi biết về truyền thuyết ở Mường Khương vì trong mấy ngày ngang dọc cùng anh Nùng Chản Phìn - Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Lào Cai, tôi hay được nghe anh kể về các huyền thoại. Nùng Chản Phìn trưởng thành từ cơ sở, mấy chục năm lặn lội khắp các hang cùng ngõ hẻm, anh biết tới 12 trên 16 thứ tiếng của các dân tộc người sinh sống ở huyện miền núi này. Dừng chân ở đâu, gặp bà con dân tộc người nào anh cũng chuyện trò vui vẻ. Anh làm tôi nghĩ, cán bộ cơ sở phải như thế thì mới gần dân và hiểu dân.
Biết về đất nước đã nhiều, song tới Mường Khương tôi lại gặp một điều thú vị vì đây là một nơi hiếm hoi chưa có huyện lỵ. Trụ sở Huyện ủy và UBND huyện vẫn cư ngụ trên đất của xã Mường Khương. Anh Giàng Mạnh Nhà - người Mông, Phó Bí thư thường trực Huyện ủy, cười khà khà rồi nói với tôi: Ðề án có rồi nhưng chưa thông qua, chúng tôi vẫn phải... "ở nhờ"! Rồi anh chỉ ra cánh đồng Mường Khương mênh mông và bảo:
- Thời Pháp thuộc, đây là cánh đồng trồng thuốc phiện, nghiện hút tràn lan. Sau mấy chục năm tuyên truyền, vận động, cả huyện nay chỉ còn 37 người nghiện hút, chủ yếu là người ở nơi khác đến, chứ dân sở tại thì ít thôi.
Một huyện miền núi có hơn 49 nghìn dân lại vốn là "sào huyệt" của thuốc phiện một thời mà nay chỉ có 37 người nghiện hút thì quả là một thành tích đáng để học tập. Thảo nào hôm mấy anh em chúng tôi đến xã Tả Ngài Chồ, anh Giàng Mạnh Nhà đã phải đứng ra giải quyết một sự cố khá hy hữu. Chẳng là hôm ấy đoàn làm phim Mùa xuân đến sớm mượn nhà một bác người Mông trong xã để dựng và quay cảnh nghiện hút, mấy diễn viên Hà Văn Trọng, Quốc Trị... đã sắm sửa đâu vào đấy để vào vai diễn thì chủ nhà lại kiên quyết không cho quay, với lý do: "Nhà tôi không có ai nghiện hút, các anh quay rồi đưa lên truyền hình người ta lại bảo nhà tôi nghiện hút à?!". Thuyết phục thế nào chủ nhà cũng không nghe, phải tới khi Phó Bí thư Giàng Mạnh Nhà giải thích cặn kẽ, gia chủ mới bằng lòng. Chủ nhiệm phim thở phào, nói với tôi: "Hú vía anh ạ!". Còn tôi lại thấy vui vui! Vui như hôm đến thăm gia đình nhà thơ Pờ Sảo Mìn, thấy anh vẫn khỏe và đã giảm uống rượu tôi rất khoái, vì không lo sẽ bị anh chuốc cho năm bảy chén. Hẹn anh mấy lần rồi mà nay mới đến thăm. Nhà thơ người Pa Dí từng lấy hình ảnh "cây hai nghìn lá" để viết về sự ít ỏi của dân tộc mình, "chiêu đãi" bạn bè đến chơi bằng cá trê nướng câu từ ao nhà, thịt hun khói lấy từ gác bếp chấm với đặc sản tương ớt Mường Khương vừa cay vừa thơm vừa ngầy ngậy. Phố núi về chiều, yên ả, lách cách tiếng mõ trâu, sương mù lan dần từ khe núi.
RỒI tôi đi Pha Long. Mấy chục cây số lên Pha Long chỉ có dốc và đèo. Qua dốc Chín Quai, đường ngoằn ngoèo, "cua tay áo" gần như gấp khúc, sương mù mờ mịt, 9 - 10 giờ sáng mà ô-tô vẫn phải bật đèn vàng. Mùa đông ở Pha Long rất lạnh, nhìn đống chăn to sụ trong các gia đình, nhìn những mái nhà ám khói như quét hắc-ín đã có thể cảm nhận được nhiệt độ nơi đây thấp đến mức nào. Nhưng nghe nói vào mùa hè thì thời tiết lại mát mẻ, nhiều gia đình sắm quạt điện chủ yếu để bày chứ ít khi sử dụng. Mà nhà cửa của người Mông ở vùng này cũng khá lạ mắt, nếu không "lịa" gỗ chung quanh thì cũng là kiểu nhà nửa dưới "trình tường" bằng đất như nhà của người Nùng, nửa trên bằng gỗ có hai tầng mái như nhà của người Hoa, giữa hai tầng để hở, xếp củi và ngô, lúc nào cũng thấy khói tràn ra nghi ngút. Kiến trúc nhà cửa ở vùng giáp biên giới xem ra có vẻ "lai pha".
Vào ngày phiên chợ, nhưng phải đến gần trưa chợ Pha Long mới bắt đầu đông người, phần vì họp sớm thì sương chưa tan, phần vì bà con ở các thôn bản xa còn phải đi một đoạn đường dài. Cách biên giới Việt - Trung vài cây số, chợ Pha Long không có nhiều khác biệt so với đa số các chợ vùng cao. Những chiếc lù-cở đầy ắp, hàng thắng cố tấp nập kẻ vào người ra, quầy thổ cẩm và hàng xén bán các thứ lặt vặt cho chị em... Rồi là những chiếc xe máy "Min" hay "Win" thi nhau gầm rú và phun khói mù mịt, những chú ngựa gõ móng lộp cộp, thi thoảng hí vang... Ðiểm khác biệt duy nhất ở đây là sự vắng bóng đến thưa thớt của các thương lái người Kinh. Ði trong cái nhộn nhịp của chợ Pha Long, không thể không liên tục nở những nụ cười. Vì người nào gặp nhau cũng thấy cười, nhất là các cô gái. Lâu ngày mới gặp, từ núi cao xuống, họ hàng anh em rủ nhau làm chén rượu bên chảo thắng cố, bát mèn mén. Rồi các bà mẹ e thẹn mỉm cười khi thấy khách lạ ngắm những chiếc khăn trùm đầu sặc sỡ hay hỏi thăm thằng cu đang vắt vẻo trên chiếc địu sau lưng... Cái sự thuần nhất về văn hóa - con người ở chợ Pha Long đưa tới cảm giác đôn hậu nguyên sơ, dễ mến và dễ tin. Ngay các cô giáo vùng cao ở đây cũng phảng phất cái phong cách ấy. Ngày Nguyễn Thị Thắm rời trường sư phạm lên Pha Long, mẹ cô từ Lục Yên (Yên Bái) cũng lên theo để xem con gái sinh sống như thế nào và bà đã khóc. Nhưng Thắm quyết tâm ở lại. Hăm ba tuổi có hai năm ở vùng cao, niềm vui của cô giáo trẻ là mấy chục học trò bản xa bản gần, ngày ngày ríu rít. Còn chuyện riêng tư ư, "anh ấy" cũng làm việc gần đây, Thắm cười và thổ lộ với tôi trước căn nhà vốn là nhà kho, rộng mênh mông, cô quây ni-lông, ở một mình một góc.
Lâu nay ở vùng đô thị có một hiện tượng theo tôi khá kỳ khôi là các bà nội trợ phải làm quen với khái niệm "rau sạch". Người bán không chỉ trưng ra cái biển đề "rau sạch" mà đôi khi còn giơ ra mấy chiếc lá thủng lỗ chỗ để chứng minh... rau không có thuốc sâu, còn các bà các chị "cẩn tắc vô áy náy" thì khi về nhà vẫn phải loay hoay ngâm nước muối đề phòng ngộ độc! Ðến Pha Long thì khái niệm rau sạch trở thành vô nghĩa. Những thửa ruộng trong thung lũng đều xanh rờn, bạt ngàn bắp cải, su hào, nhất là loại rau cải bẹ dày cộp luộc lên ăn ngọt lừ. Tò mò, tôi theo Chấu Xeo Dân xuống ruộng. Cô gái người Mông này thật đáng yêu, vừa hát véo von vừa thoăn thoát vặt lá su hào để mẹ đưa xuống chợ. Chấu Xeo Dân 22 tuổi, học xong lớp 12 đang học y sĩ ở thành phố Lào Cai, ngày nghỉ cuối tuần về thăm nhà và làm việc giúp mẹ. Giữa thửa ruộng xanh lá, tấm áo khoác đỏ, tấm váy ngang dọc hoa văn của cô gái người Mông nổi lên như một bông hoa. Chấu Phủ Xín - ông thân sinh của Chấu Xeo Dân, có vẻ tự hào về con gái, nên khi đang ngồi uống rượu với ông trong căn bếp rộng rãi, bên chiếc lò xây cao có đặt hai cái chảo to đùng đang sôi sùng sục, ông nói với tôi:
- Sang năm nó học xong thì về xã, khám chữa bệnh cho bà con, thế là mình thích rồi!
Nụ cười hể hả của người cha làm Chấu Xeo Dân đang lúi húi ở góc bếp cũng vui theo. Cô bảo: "Bố không bắt về thì con cũng về!".
Tôi tin là cô sẽ trở về, vì Pha Long xa xôi của cô vẫn đang rất cần đến bàn tay và khối óc con người để có thể theo kịp các vùng khác. Ðịa thế hiểm trở, đường sá không thuận tiện, Nhà nước đầu tư cho giao thông, điện lưới, bệnh xá, trường học... cũng đã nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu toàn bộ. Trước cửa hàng kinh doanh vật tư nông nghiệp, xe máy, ngựa thồ, lù-cở cùng sát cánh bên nhau. Mỗi chiếc "Min" chở được quãng 100 kg phân lân. Ngày bón thúc cho ngô sắp đến rồi, nhà nhà kéo nhau xuống núi. Chiếc xe của Giàng Trá Diêu - Chủ tịch UBND xã Tả Ngài Chồ, đã chằng buộc xong, anh gật đầu chào tôi rồi phóng vút đi, đường gập ghềnh, xe nảy lên từng đợt. Vợ chồng Lý Seo Pao thì dắt ngựa, hai vợ chồng hai bên, hè nhau bê hai bao phân lân đặt lên lưng ngựa. Vợ chồng Lù Sa Khòa thì gùi, một bao 50 kg san sang hai bao nhỏ, nhìn theo bóng họ lầm lũi, bước thấp cao ngược lên phía núi mà không khỏi chạnh lòng. Cuộc chiến chống đói nghèo ở vùng cao này xem ra còn gian nan lắm.
Giữa trưa mà sương mù vẫn còn dày đặc. Bóng núi ẩn hiện gần xa. Cù Hòa - thiếu tá công an, đang cố ăn xong bữa cơm trưa để còn xuống bản. Phụ trách an ninh một xã có tới 14 thôn bản rải rác trên núi cao, hơn 20 năm nay, Cù Hòa thi thoảng mới về nhà dưới Vĩnh Yên. Con lớn, con bé giao hết cho vợ. Khó có thể hình dung vào thời buổi này vẫn có một anh thiếu tá công an đang sống trong cảnh cơm niêu nước lọ giữa bạt ngàn núi, bạt ngàn mây. Căn buồng nhỏ của anh không khác gì căn phòng của mấy thầy cô giáo, khác chăng là ở bộ trang phục nghề nghiệp và... chiếc điếu cày. Nói cười rổn rảng, hình như với anh sĩ quan công an này, Pha Long đã trở thành quê hương thứ hai, bất chấp sự đạm bạc trong bữa cơm trưa mà anh vội vàng dọn đi khi thấy tôi bước chân vào phòng...
Mường Khương - xứ núi đang thay da đổi thịt từng ngày nhưng vẫn còn nguyên vẹn các sắc thái văn hóa truyền thống mà văn minh đô thị chưa có khả năng chiếm lĩnh. Tạm biệt nơi đây, trở về với sự ồn ào náo nhiệt dưới đồng bằng, hẳn là sẽ lại nhớ, lại mong có ngày trở lại để được sống trong cảm giác thanh bình, để được hít thở không khí trong lành, và để được khề khà bên chén rượu cùng những con người mà nỗi gian nan, vất vả không làm thay đổi tính cách và tâm hồn họ.