ND - Từ xưa đến nay, cùng với việc chủ động phòng, chống lũ gây thiệt hại về người và của, mùa lũ ở đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) còn được nhìn nhận và khai thác dưới góc độ tận dụng triệt để sản vật tự nhiên, phần lớn người dân mưu sinh theo phương pháp đánh bắt, mang mầu sắc khẩn hoang.
Trước những đòi hỏi bức thiết từ mục tiêu phát triển bền vững và hài hòa đời sống vật chất và tinh thần, người dân nơi đây đang hướng đến những giá trị chuẩn về văn hóa - xã hội mang tính đặc thù.
Phát triển kinh tế
Ðến nay, việc phát triển kinh tế trong mùa lũ ở ÐBSCL đã hình thành hơn 30 dạng mô hình, tập trung phần lớn tại các tỉnh An Giang, Ðồng Tháp, Long An, Hậu Giang, Tiền Giang và một số vùng ngoại thành thành phố Cần Thơ. Những dạng mô hình đặc thù phát huy hiệu quả kinh tế cao gồm: Nuôi trồng, khai thác và chế biến các loại thủy sản; trồng và sơ chế nấm rơm xuất khẩu; đan bèo lục bình, thu hoạch bông điên điển, rau bồn bồn; sản xuất dụng cụ đánh bắt thủy sản, dịch vụ thủy sản mùa lũ; du lịch sinh thái mùa lũ, v.v.
Từ những mô hình làm ăn này đã hình thành hơn 100 làng nghề và hàng chục nghìn cơ sở sản xuất, kinh doanh. Những năm gần đây, khi hệ thống cụm, tuyến dân cư (CTDC) vượt lũ được xây dựng và đưa vào sử dụng, hoạt động phát triển kinh tế mùa lũ của người dân ÐBSCL phát triển với tốc độ rất nhanh. Bên cạnh những làng nghề truyền thống, tốc độ phát triển kinh tế đã hình thành thêm nhiều làng nghề mới với những phương thức hoạt động khá đa dạng, phong phú. Ông Phạm Ngọc Trọng, Ðoàn trưởng đoàn Kinh tế - Quốc phòng 959 (Tân Hồng - Ðồng Tháp) cho biết: Việc làm ăn trong mùa lũ không còn dừng lại ở kiểu thủ công, mà đã phát triển theo hướng cơ giới hóa, ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật. Một số loại sản phẩm mùa lũ đã trở thành hàng hóa xuất khẩu với số lượng lớn, được quảng bá rộng rãi trên mạng lưới công nghệ thông tin. Hiện ở đầu mối các ấp, xã, các mô hình sản xuất, chăn nuôi, chế biến... được tổ chức hoạt động theo hình thức tổ, đội, hợp tác xã. Dưới sự hỗ trợ của nhà nước, các tổ, đội này cùng đồng tâm hợp lực chăm lo cho từng hộ thành viên. Họ có những quy ước chặt chẽ về quy trình sản xuất, chăn nuôi, giá bán sản phẩm... để bảo đảm hài hòa lợi ích chung-riêng.
An Giang là tỉnh điển hình trong việc phát triển các mô hình kinh tế mùa lũ. Ðến nay toàn tỉnh đã có khoảng 350 nghìn hộ gia đình tham gia phát triển sản xuất, làm ăn trong mùa lũ. Hàng chục nghìn hộ khó khăn đã được hỗ trợ cho vay vốn, cấp phát xuồng, dạy nghề để phát triển sản xuất, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh xuống còn dưới 3%. Hiệu quả phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân trong mùa nước nổi ở An Giang trở thành một điển hình ở ÐBSCL.
Ông Ðoàn Ngọc Phả, Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh An Giang cũng cho rằng: Bài học kinh nghiệm trong vấn đề này là các địa phương phải nhạy bén, kịp thời nắm bắt nhu cầu, tiềm năng của nhân dân để xây dựng, nhân rộng những mô hình hiệu quả. Khi áp dụng đúng, các mô hình sẽ nhanh chóng phát huy hiệu quả. Chính quyền các cấp và cơ quan Nhà nước giữ vai trò hỗ trợ vốn, kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học giúp dân nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm.
Bồi đắp các giá trị văn hóa
Bên cạnh những hệ lụy, lũ ở ÐBSCL là một tài nguyên. Việc tận dụng lũ để làm ăn, phát triển kinh tế theo phương châm sống chung với lũ đã mang lại những thành quả lớn. Tuy nhiên, các mô hình làm ăn mùa lũ thường vẫn chỉ dừng lại ở những thành quả về kinh tế. Các vấn đề về văn hóa - xã hội vẫn còn rất yếu và thiếu. Sinh thời, nhà văn Sơn Nam rất quan tâm nghiên cứu văn hóa khẩn hoang Nam Bộ. Ông cho rằng, khi đã coi lũ là một nguồn tài nguyên mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân thì việc sống chung với lũ không đơn thuần chỉ là mưu sinh, mà phải được duy trì, phát triển dựa trên nền tảng của những giá trị văn hóa.
Chương trình của Chính phủ đối với phát triển đời sống nhân dân vùng lũ cũng đặt ra mục tiêu phát triển toàn diện đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội cho nhân dân. Tìm hiểu thực tế tại một số CTDC trọng điểm ở các tỉnh, chúng tôi thấy mặc dù dân không còn lo thiếu thốn cái ăn, chốn ở nhưng việc bảo đảm học hành, các thiết chế cho đời sống văn hóa, xã hội thì còn tạm bợ, thiếu đồng bộ. Ngay cả ở tuyến dân cư Kinh Bảy Xã, một trong số các tuyến dân cư trọng điểm lớn nhất tỉnh An Giang và ÐBSCL cũng mới chỉ xôm tụ ở vài cái chợ quê. Hệ thống điện - đường - trường - trạm còn rất ngổn ngang, tạm bợ.
Theo Sở Xây dựng tỉnh An Giang, trong số gần 200 CTDC được xây dựng toàn tỉnh, hiện mới chỉ có 78% CTDC có đường giao thông, 72% có hệ thống thoát nước, 56% được kéo đường điện. Hầu hết các CTDC mới chỉ đáp ứng nhu cầu tránh lũ và làm ăn của dân. Trong lúc để phát triển toàn diện thì không thể không tính đến việc hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đầu tư đồng bộ các thiết chế để phát triển giáo dục, văn hóa, xã hội.
Theo GS,TS Võ Tòng Xuân, những hạn chế trong phát triển văn hóa - xã hội ở các CTDC hiện nay là do chương trình sống chung với lũ đang vừa làm vừa rút kinh nghiệm và hoàn thiện nên các địa phương còn lúng túng. Muốn an sinh xã hội bền vững, phải đặc biệt coi trọng phát triển văn hóa, nâng cao dân trí, ổn định các vấn đề xã hội đặc thù mùa lũ. Lộ trình phát triển đời sống văn hóa - xã hội cho nhân dân vùng lũ bắt đầu từ công thức Nhà nước và nhân dân cùng làm, huy động tối đa sức dân, phát triển song hành cùng kinh tế, có sự tác động hỗ trợ mật thiết lẫn nhau. Trong lúc chưa có một mặt bằng chung về cơ sở hạ tầng đủ để phát triển toàn diện, việc chăm lo đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân cần được tổ chức trên cơ sở phát huy mạnh mẽ những sinh hoạt văn hóa dân gian đặc trưng.
Thời gian qua, các địa phương đã liên kết, phối hợp tổ chức các tua du lịch sinh thái kết hợp với tổ chức các giải thi đấu thể thao truyền thống trong mùa lũ như: bơi vũ trang, đua ghe ngo, đua xuồng hai dầm cùng các hoạt động văn hóa như: mở rộng phong trào đờn ca tài tử, thi thuyền hoa trên sông nước, hoạt động thuyền văn hóa lưu động... Ðó là những cách làm cần được khuyến khích thường xuyên, sâu rộng, thể hiện văn hóa mùa lũ đậm nét.
Hiện nay, các địa phương đang tập trung kế hoạch đẩy mạnh phát triển sản xuất theo phương châm đa dạng loại hình cây - con, quy hoạch vùng sản xuất cây trồng, vật nuôi trong mùa nước nổi theo phương châm giảm trồng lúa vụ ba chuyển sang luân canh hai vụ lúa, một vụ màu, hình thành những vùng sản xuất nguyên liệu nấm rơm tập trung để chế biến xuất khẩu. Sản phẩm kinh tế mùa nước nổi phấn đấu đạt 30% tổng giá trị trong cơ cấu sản xuất hàng năm. Quá trình sản xuất phải gắn chặt với đẩy mạnh khai thác các loại hình dịch vụ, du lịch, thương mại, phát triển mạnh các làng nghề mùa nước nổi.
Về lâu dài, việc phát triển toàn diện đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội cần được tiến hành trong một quy hoạch tổng thể. Trước hết, từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, giao thông nông thôn tại các CTDC, đầu tư phát triển mô hình điện - đường - trường - trạm. Ðồng chí Lâm Minh Chiếu, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết: Hiện tỉnh đã chỉ đạo Công ty Ðiện nước An Giang vay vốn hỗ trợ đầu tư để phát triển, hoàn thiện vấn đề điện, nước ở 100% CTDC. Có điện thì mới tính được bài toán nâng cao đời sống văn hóa, dân trí nhân dân vùng lũ. Ðây có thể coi là một bước đi táo bạo của An Giang khi tự mình tìm giải pháp khắc phục, không trông chờ sự đầu tư của Chính phủ. Chủ trương bán 30% số nền nhà tại các CTDC để lấy vốn xoay vòng đầu tư cơ sở hạ tầng tại chỗ đã và đang giải quyết có hiệu quả vấn đề thiếu vốn xây dựng ở địa phương. Song song với phát triển hạ tầng, tại các CTDC trọng điểm sẽ được từng bước thành lập các khu dân cư văn hóa văn minh, tiến tới nhân rộng ở 100% CTDC. Hệ thống trường học, bưu điện, bệnh xá vượt lũ được quy hoạch ở mỗi CTDC, từng bước đưa công nghệ thông tin về vùng lũ.
Chương trình phát triển toàn diện đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội đang ở giai đoạn vừa làm vừa kiểm nghiệm để rút kinh nghiệm, nhân rộng. Sự khảo sát, hỗ trợ về chuyên môn từ các bộ, ngành trung ương đối với ÐBSCL là rất cần thiết. Việc phát triển toàn diện và đồng bộ là một giải pháp đúng, song cần phải có sự đầu tư trọng điểm ở một vùng trọng điểm (theo phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm) để có một đáp án đủ sức thuyết phục. Bởi thực tế hiện nay, chưa có một CTDC nào đạt chuẩn về sự đồng bộ của các thiết chế văn hóa - xã hội.