Bàn thắng
- Tổng cộng 22 bàn thắng đã được ghi sau 12 trận đấu với tỷ lệ, trung bình 1,83 bàn mỗi trận. Đây là tỷ lệ thấp nhất kể từ năm 1968 (bảy bàn thắng trong năm trận, trung bình 1,40 bàn mỗi trận).
- 16 trong tổng số 22 bàn thắng được ghi ở hiệp hai
- Ba bàn thắng được ghi vào phút bù giờ của hiệp hai, tuy nhiên lại không có bàn nào được ghi vào phút bù giờ của hiệp một.
- Có bốn cầu thủ ghi bàn sau khi vào sân thay người, hai trong số đó đã lập công trong cùng một trận đấu, đó là Ondrej Duda (Slovakia) và Hal Robson-Kanu (Wales).
- Chỉ có hai trong số 21 cầu thủ ghi bàn là đã từng lập công ở các kỳ Euro trước đó: Bastian Schweinsteiger (Đức) and Luka Modric (Croatia).
- Pha lập công của Nani trong trận Bồ Đào Nha-Iceland là bàn thắng thứ 600 trong lịch sử các VCK Euro.
Đường chuyền
- Tây Ban Nha hoàn thành 632 đường chuyền trong trận gặp CH Séc, tuy nhiên Thụy Sĩ có tỉ lệ hoàn thành cao hơn với 92,2% (510 trong số 553 đường chuyền tìm tới đúng vị trí).
- Tây Ban Nha áp đảo tỷ lệ kiểm soát bóng với 67% trong trận gặp CH Séc.
Dứt điểm:
- Bồ Đào Nha thực hiện 27 cú dứt điểm trong trận gặp Iceland, nhiều hơn chín cú sút so với bất kỳ đội bóng nào khác.
- 11 trong 18 pha dứt điểm của Croatia trong trận gặp Thổ Nhĩ Kỳ đi chệch khung thành.
Khán giả:
- 46,759 là lượng khán giả đến sân trung bình mỗi trận đấu. Đây là tỷ lệ cao nhất kể từ khi giải đấu được mở rộng lên 16 đội vào năm 1996 (VCK Euro 1988 chứng kiến số lượng khán giả trung bình là 56,656 mỗi trận).