Một số ý kiến về dự thảo Luật Đấu thầu 16-9-2013

NDĐT - Dự thảo Luật Đấu thầu ngày 16-9-2013 - dưới đây gọi tắt là Luật- được soạn thảo kỹ và có chất lượng khá tốt, đáp ứng được cơ bản những yêu cầu hình thức và nội dung của một văn bản luật loại này.

Tuy nhiên, để góp phần hoàn thiện Luật, cần chú ý một số điểm sau:

Về đối tượng và phạm vi điều chỉnh Luật

Nếu nghiên cứu kỹ, có thể thấy Luật đã bao quát hầu hết các đối tuợng cần áp dụng nguyên tắc đấu thầu trong thực hiện các hoạt động đầu tư và mua sắm có sử dụng vốn NSNN là đúng và phù hợp với các yêu cầu hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là điều 1 của Luật chưa hề đề cập trực tiếp đến những hoạt động đầu tư và mua sắm liên quan đến ODA có sử dụng NSNN. Theo chúng tôi, cần bổ sung thêm một đối tượng là các dự án ODA có vốn đối ứng của Việt Nam (ví dụ, từ 11% trở lên) vào diện cần đấu thầu triển khai; với ba lý do chủ yếu sau:

Thứ nhất, Việt Nam đã coi ODA cũng là vốn nhà nước; Bản thân khoản 46 điều 4 giải thích từ ngữ của Luật cũng xác định: Vốn nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước; công trái quốc gia, trái phiếu chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương; vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ; quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp; giá trị quyền sử dụng đất, mặt nước; vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước; vốn tín dụng do Chính phủ bảo lãnh; vốn vay được bảo đảm từ tài sản của Nhà nước; vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.

Lut yêu cầu các khoản đầu tư, mua sắm có vốn nhà nước ở mức nhất định đều cần tổ chức đấu thầu thực hiện. Vì vậy, cần đưa các hoạt động đầu tư và mua sắm bằng vốn ODA có vốn đối ứng NSNN vào Luật để bảo đảm sự công bằng và hiệu quả đầu tư xã hội như mọi nguồn vốn khác.

Thứ hai, các dự án ODA thuờng có quy mô lớn và trong thời gian tới, cùng với quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam, điều kiện cấp ODA sẽ đậm dần tính chất thương mại, trong đó có yêu cầu tỷ lệ vốn đối ứng của Việt Nam ngày càng cao hơn. Do vậy, khả năng vốn NSNN tham gia vào các dự án ODA sẽ ngày càng lớn vượt mức 30% của dự án trên 500 tỷ đồng như quy định trong các tiết b và c của khoản 1 điều 1 yêu cầu phải tổ chức đấu thầu.

Thứ ba, thực tế cho thấy, thời gian qua, toàn bộ điều kiện sử dụng, mua sắm và thực hiện đầu tư từ nguồn ODA (với mức viện trợ không hoàn lại thường dưới 10% tổng mức ODA cam kết) đều do nhà cung cấp quyết định, khiến chi phí tăng hơn so với tổ chức đấu thầu, gây bất lợi cho Việt Nam. Vì vậy, việc đưa ra quy định tổ chức đấu thầu triển khai các dự án ODA có mức sàn tỷ lệ vốn NSNN tham gia dự án là cần thiết cả về kinh tế, lẫn pháp lý; khẳng định nhận thức mới và yêu cầu mới của Việt Nam trong bối cảnh mới đối với các nguồn vốn đầu tư xã hội, mà ODA là một bộ phận hợp thành.

Với tinh thần và theo logich đó, cần điều chỉnh nội dung khoản 3 điều 3 cho phù hợp, theo đó cần loại những dự án ODA đã đưa vào đối tượng đấu thầu như trên ra khỏi nội dung quy định của khoản này (tức ví dụ chỉ còn là những dự án có vốn đối ứng của Việt Nam từ dưới 10% tổng ODA cam kết).  

Ngoài ra, để ngắn gọn trong nội dung Luật, có thể ghép các tiết a với d, tiết b với tiết c và tiết đ với tiết e, mà không sợ gây hiểu lầm; cụ thể, có thể ghép tiết a vơi c như sau:

a) Thực hiện dự án đầu tư phát triển của cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;

d) Mua sắm sử dụng vốn nhà nước nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;

Thành tiết a mới: a) Thực hiện dự án đầu tư phát triển hoặc mua sắm sử dụng vốn nhà nước nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức khoa học và công nghệ công lập, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;

Và ghép tiết:

b) Thực hiện dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước hoặc có phần vốn góp của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án được phê duyệt;

c) Thực hiện dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên hoặc dưới 30% nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án được phê duyệt;

Thành tiết b mới là: Thực hiện dự án đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước, hoặc doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân sử dụng vốn nhà nước, hoặc có phần vốn góp của doanh nghiệp nhà nước từ 30% trở lên, hoặc dưới 30%, nhưng trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư của dự án được phê duyệt.
 

Về giải thích từ ngữ

Trong khoản 13 điều 4 về giải thích: Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa và xây lắp thuộc dự án, dự toán mua sắm; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.

Cách giải thích trên khá hẹp và dễ tự mâu thuẫn với những nội dung về đối tuợng đấu thầu đã nêu trên ở điều 1, điều 2 và điều 3 truớc đó của Luật. Vì vậy, cần xây dựng lại cách giải thích mới cụm từ Đấu thầu cho bao quát, sắc nét và logich hơn.

Về tư cách hợp lệ của nhà thầu, nhà đầu tư

Điều 5 khoản h) quy định: Nhà thầu nước ngoài khi tham dự thầu quốc tế tại Việt Nam phải liên danh với nhà thầu trong nước, ký hợp đồng với nhà thầu phụ trong nước.

Đây là quy định cần thiết và tốt; tuy nhiên, cần cụ thể hoá sâu hơn và chặt chẽ hơn đối tượng và mức độ ký hợp đồng phụ theo hướng ưu tiên cho các nhà thầu phụ trong nước thực hiện các dự án mà trong nước có khả năng đáp ứng về nhân lực, vật tư và công nghệ; giảm thiểu và chấm dứt tình trạng các nhà thầu nước ngoài đưa vào Việt Nam cả các lao động giản đơn và vật tư mà Việt Nam có khả năng cung cấp cạnh tranh.

Về bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu

Điều 6. Bảo đảm cạnh tranh trong đấu thầu cần xác định rõ hơn nội dung thế nào là sự độc lập về pháp lý và độc lập về tài chính giữa nhà thầu tham dự thầu với nhà thầu tư vấn lập hồ sơ mời...;

Đồng thời, cần có những quy định bổ sung nhằm ngăn chặn sự lạm dụng thắng thầu không lành mạnh, như bỏ giá thấp rồi tính tăng giá phát sinh; cũng như cần có danh mục cấm những thủ thuật cạnh tranh không lành mạnh khác…

Về chỉ định thầu

Quy định chỉ định thầu tại điều 23 khoản e) Gói thầu cung cấp dịch vụ có giá gói thầu dưới 500 triệu đồng; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có giá gói thầu dưới 1 tỷ đồng thuộc dự án đầu tư phát triển; gói thầu thuộc dự toán mua sắm thường xuyên có giá gói thầu dưới 200 triệu đồng;

Đây là quy định chấp nhận đuợc về nguyên tắc. Tuy nhiên, Luật cần bổ sung quy định bảo đảm ngăn chặn hiện tượng xé nhỏ gói thầu để lạm dụng chỉ định thầu, “trốn thầu”, như thực tế cho thấy còn xảy ra thời gian qua.

Về quản lý nhà nước về đấu thầu

Trong điều 81: Nội dung quản lý nhà nước về đấu thầu cần bổ sung nội dung nhà nước có trách nhiệm và có quyền thực hiện các biện pháp hành chính và tài chính cần thiết nhằm bảo đảm chất lượng các dự án, công trình thực hiện qua đấu thầu, trong đó có biện pháp đặt cọc bảo hành chất lượng công trình, dự án…;

Đồng thời, cũng cần bổ sung những quy định quản lý nhà nước cụ thể liên quan đến tăng cường thông tin, giám sát và phản biện xã hội về các dự án đấu thầu, nhằm tăng tính minh bạch, dân chủ và hiệu quả dự án…

Hy vọng rằng, sau khi hoàn thiện, dự thảo Luật Đấu thầu sẽ góp phần trực tiếp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao hiệu quả đầu tư xã hội và sử dụng vốn nhà nước, góp phần tích cực vào quá trình tái cấu trúc tổng thể và nâng cao chất lượng phát triển kinh tế ở nước ta trong thời gian tới.

Có thể bạn quan tâm