Lâu nay, du khách trong nước, ngoài nước, đều mới chỉ biết đến Hà Giang qua hình ảnh của công viên đá Đồng Văn, của chợ tình Khau Vai, của Mã Pì Lèng và sông Nho Quế, của cột cờ trên đỉnh Lũng Cú. Ít ai biết về một Hà Giang khác. Hà Giang của người miền xuôi lên lập nghiệp, lặng lẽ lẫn vào núi rừng, sông suối, đất đai. Lặng lẽ sáng tạo và dựng nên cuộc sống với những nét văn hóa pha trộn. Khi Hà Giang còn nghèo, họ nỗ lực đóng góp vào sự phát triển kinh tế, văn hóa. Hà Giang khấm khá hơn một chút, họ đứng nép một bên, nửa coi mình là người Hà Giang, nửa bùi ngùi nghĩ mình là người nơi khác đến cư ngụ. Dù gì, sống đang làm người Hà Giang, chết, sẽ nằm lại với Hà Giang.
Vào đầu những năm 60 của thế kỉ XX, trong lúc đời sống quá khó khăn, đất chật, người đông, có sức cũng không có điều kiện để lao động, rất nhiều gia đình miền xuôi đã tự nguyện rời bỏ quê hương, ra đi làm kinh tế mới. Gia đình bác tôi là một trong số đó.
Bác với bố tôi là anh em họ, nhưng có mối quan hệ rất đặc biệt, không khác gì ruột thịt. Bố của bác mất sớm, bác đã từng được ông nội tôi đưa về nuôi. Sau này lớn, bác lập gia đình ra ở riêng, bố tôi cũng lấy mẹ tôi nhưng ông đi bộ đội đánh Pháp, nên thường xuyên xa nhà. Năm 1961 bác đưa vợ con lên Hà Giang theo chính sách vận động dân cư đi làm kinh tế mới ở những vùng xa xôi hẻo lánh, ít người, sẵn đất. Khi ấy, kể cả nếu bom Mỹ không đánh phá thường xuyên thì con đường duy nhất lên Hà giang cũng đã quá khó đi. Theo như sự sắp xếp của ban định canh định cư thì bác cùng mấy chục hộ gia đình khác đã được bố trí diện tích vừa ở, vừa canh tác ở xã Đồng Yên thuộc huyện Bắc Quang của Hà Giang. Một xã cách quốc lộ 2 hơn 20km. Và vào được đó chỉ có một cách duy nhất là cuốc bộ theo đường mòn ngựa đi.
Đồng Yên khi ấy là một thung lũng chạy rất dài giữa những dãy núi cao ngất, với một số ít hộ người dân tộc Tày sinh sống. Và hàng trăm hộ người Kinh được chia đất, chia rừng, chia ruộng sống xen lẫn với họ. Khỏi phải nói những ngày đầu tiên đặt chân đến cái thung lũng hẻo lánh chỉ có tiếng chim kêu vượn hót hổ gầm ấy, những người chưa bao giờ đi qua cái cổng làng đã hoang mang ra sao. Nhưng thứ quan trọng nhất, thứ đã khiến họ rời bỏ quê hương bản quán, thứ duy nhất có thể giữ chân họ lại, và cũng không ngờ lại có thể giữ chân họ hơn nửa thế kỉ, chính là đất đai, lại đang bời bời như vô tận ngay trước mắt. Đúng vậy. Vì không có đất canh tác mà những người nông dân phải rời bỏ nơi chôn rau cắt rốn. Giờ cũng vì thấy đất trước mắt, đất mênh mông, trù phú và ấm áp mà ở lại, cho dù nơi này có heo hút đến mấy.
Và bản tính cần cù, lam làm, tằn tiện với tình yêu đất đai vô bờ bến của họ đã thu được thành quả. Đất chẳng phụ người. Giàu có chẳng dám nói nhưng đói ăn thì không đến nỗi. Hai bố mẹ với đàn con 6-7 đứa lít nhít chỉ biết một điều duy nhất, ngày ngày bán mặt cho đất. Chẳng học hành gì hết. Chẳng chơi bời lêu lổng gì hết. Chỉ có lao động và lao động.
Nửa thế kỉ trôi qua. Hai bác giờ đã bát thập. Con cháu đầy nhà. Con trai, con gái đều có gia đình riêng. Mỗi đứa ra ở riêng, bác cho vài chục gốc cam làm vốn. Con cái có đứa hiếu thảo, có đứa chỉ biết thân mình, có đứa khá giả, có đứa vẫn nghèo rớt mùng tơi, cũng là chuyện thường.
Nửa thế kỉ, với một vùng đất thì cũng là chuyện thường, nhưng với một đời người thì quả là quá dài. Hai bác, cũng như bố mẹ tôi, cho dù không bao giờ quên quê hương bản quán, nhưng khoảng cách về không gian và thời gian cũng khiến quê hương nhạt nhòa đi. Và quê hương thực sự, dường như chính là nơi đã cho người ta cuộc đời. Bác tôi, như đã nói, sống lẫn trong một ngôi làng của đồng bào Tày. Người Tày vốn lành hiền, cần cù, giản dị và có phần kín đáo. Với một nền tảng văn hóa bản địa rất độc đáo. Và những gia đình người Kinh ở xuôi lên, ở một khía cạnh nào đó mà nói, thì buộc phải thích nghi. Thích nghi cả trong lối sống, lối ứng xử, cả trong lao động. Một ví dụ rất rõ, ấy là cách lựa chọn và sử dụng nông cụ. Người Kinh ở xuôi lên có thể biết lưỡi cày, lưỡi bừa, nhưng chưa bao giờ biết đến lưỡi quà và con dao quắm. Lưỡi quà dùng để làm cỏ, vun gốc, vạc bờ đều tốt hơn lưỡi cuốc rất nhiều. Vì nó to bản, giống như cái cánh bướm. Cũng có nơi gọi nó là cái cuốc bướm. Lúc mới sử dụng hơi khó, nhưng dùng một vài lần sẽ quen. Quan trọng hơn nữa, nếu anh không dùng lưỡi quà, anh sẽ chẳng có gì để dùng. Vì cho dù anh ra chợ hay anh mang sắt vụn, gang vụn đi đổi, cũng chẳng nơi nào cung cấp lưỡi cuốc cho anh. Hay con dao quắm cũng vậy. Tự dưng ở đầu mũi dao lại có một cái mỏ khoằm như mỏ con vẹt, cộng thêm cái tay cầm rất dài. Để làm gì vậy? Vì người nông dân sống ở rừng, cây cỏ đều rậm rạp và mọc rất nhanh, nếu cái lưỡi dao dùng để phát rừng mà không khoằm vào như cái mỏ vẹt thì phát cả ngày cũng không bằng người ta làm nửa buổi. Thế là các gia đình người Kinh bỏ hết cả lưỡi cuốc lẫn dao phát, sắm mới cả loạt.
Rồi dần dần, những nếp sinh hoạt khác của người bản địa cũng len vào từng gia đình. Người Kinh trước không biết dùng chõ gỗ để đồ xôi thì nay đã thành thạo. Lại cũng biết “tang” lúa nếp rồi bó thành từng cum, chất trên gác bếp. Lại cũng biết nấu rượu bằng men lá. Lại cũng thuộc cả những điệu dân ca Tày. Lại cũng mừng đám cưới bằng con gà con vịt. Cũng mang tới đám tang bao thóc, bao gạo. Nhưng có một điều, không dám lấy con dâu người Tày. Vì người Tày khi xưa thách cưới rất cao. Nhà nào có nhiều con gái, sớm muộn gì cũng giàu. Mỗi cô dâu về nhà chồng, cha mẹ chồng phải mang tới đủ một trăm đồng bạc trắng, một trăm cân gạo tẻ, một trăm cân gạo nếp, một trăm gà trống thiến, một trâu đực hoặc một bò tơ…, nhà nào có con gái vừa đẹp người đẹp nết, nức tiếng làng trên xóm dưới thì có khi phải hai trăm, ba trăm. Cho nên nhà nào nghèo, lại có nhiều con trai, cha mẹ lo đứng lo ngồi.
Bác tôi cũng dựng một cái nhà sàn nhỏ bên cạnh căn nhà gỗ đã năm chục năm tuổi. Nhưng làm khác đi một tí. Người Tày làm cầu thang chín bậc thì bác làm bảy bậc. Người Tày để bếp giữa nhà thì bác dọn bếp xuống dưới đất. Người Tày để ban thờ tổ tiên ở gian giữa còn bác vẫn để ban thờ ở căn nhà cũ. Nhà sàn của bác cũng không có sàn phơi lúa, không có căn buồng mà cửa buồng có mảnh vải hoa Trung Quốc đỏ rực dành cho con gái chưa chồng, không có cái gác bếp trên đó treo kín những bắp ngô già vàng rực…
Giờ, bác đã đưa cả mồ mả các cụ lên đấy. Nghĩa là, trong tâm thức của bác, đã hoàn toàn không còn ý định trở về nơi mình được sinh ra. Đấy cũng là một cách thể hiện lòng biết ơn với mảnh đất đã cho mình quá khứ, hiện tại và tương lai. Thêm một lần nữa, đất không phụ người, người càng không thể phụ đất. Và dưới cái thung lũng ấy, cũng như nhiều thung lũng khác, triền núi khác, cách biệt với đô thị ồn ào, còn có một Hà Giang khác. Hà Giang không chỉ của người bản xứ. Một Hà Giang trầm tĩnh và đôn hậu, cam chịu và nhẫn nhịn, khác biệt và hòa quện, và nặng trĩu ân tình.
Tháng 11-2011