Khởi từ cụ cố Lê Minh Dung, tự Minh Châu, thụy là Minh Ðạt sinh thời Minh Mạng, lớn lên qua thời Tự Ðức, cũng là lúc thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta. Lúc trai trẻ, cụ Lê Minh Dung từng theo Tổng đốc Quân vụ Ðại thần Nguyễn Tri Phương đi đánh giặc nhiều nơi. Nước ta bị quân thực dân cướp, cụ đi theo Phong trào Cần Vương, tham gia cuộc Khởi nghĩa Ba Ðình rồi tử trận tại dinh lũy Mã Cao (Thanh Hóa) ngày 8-3-1887, thọ 53 tuổi.
Cụ cố Lê Minh Dung cùng cụ cố bà Lê Thị Chỉnh sinh hạ được hai người con trai, vì kỵ húy mà đổi tên đệm là Lê Văn Tuyển và Lê Văn Tiến. Khi cụ Lê Minh Dung hy sinh thì người con thứ Lê Văn Tiến mới tròn 20 tuổi. Cụ Lê Văn Tiến, tự Trọng Ðức, hiệu Nguyệt Hồ, sinh năm Mậu Thìn (1868), gia phả chép "tính khảng khái, cương trực, bất khuất, ghét kẻ ác như thù hằn... tuổi nhỏ học thuật thông minh, 14 tuổi mẹ chết, 20 tuổi cha chết rồi vợ chết, biến cố xảy ra liên tục...". Tuy vậy, là người có nghị lực, cụ Lê Văn Tiến vẫn chuyên tâm học hành, làm thư ký Bộ Lại rồi làm quan án tỉnh ở Hà Tĩnh. Gặp cuộc Duy Tân trên cả nước và phong trào kháng thuế cự sưu ở các tỉnh miền trung, cụ Lê Văn Tiến cũng dấn thân làm "quốc sự", có mối dây liên hệ với nhà chí sĩ yêu nước nổi danh Nguyễn Thượng Hiền. Bị thực dân bắt và đày đi Côn Ðảo. Tại "địa ngục trần gian" này, cụ Lê Văn Tiến vẫn giữ tư thế và ý chí của con một liệt sĩ chống thực dân như bài thơ vịnh "Núi Hùm" cụ làm trong thời gian bị lưu đày: Hiên ngang đứng giữa đảo Côn Lôn/Vết đá trông xa tưởng lốt hùm/ Gió thốc miệng hang gầm buổi sáng/Mây luồn chân núi thét khi hôm/Mạch long áp đất chồn chân đứng/Bóng thỏ lưng trời nghếch mắt nom/Nghe nói giống thiêng ta thử bỡn/Trèo lên lưng cưỡi ắt không chồn.
Sau bảy năm bị lưu đày trở về quê nhà, với những hiểu biết về Ðông y học được ở những bạn tù ngoài Côn Ðảo, cụ Lê Văn Tiến làm nghề thăm mạch bốc thuốc vừa cứu nhân độ thế vừa mưu sinh nuôi sống gia đình và truyền lại cho bốn người con trai gia phong và chí hướng của dòng tộc trong "bốn câu bốn chữ" làm tên đặt cho con cháu: Minh Ðức Tân Dân/Kỳ Công Củng Cố/Phú Hưng Hạnh Phúc/Thái Bình Thịnh Trị. Cụ Lê Văn Tiến quy tiên năm Ðinh Sửu (1937) thọ 70 tuổi.
Cụ Lê Văn Tiến có bốn người con trai và hai người con gái. Người con trai trưởng tên là Lê Quang Phấn (sinh ngày 14-7-1905). Khi ông Lê Quang Phấn mới ba tuổi là lúc cha là cụ Lê Văn Tiến bị thực dân bắt. Chính vì quá thương chồng, khi nghe tin giặc định kết án tử hình mà cụ bà Trịnh Thị Thường chết ngay lúc ôm con nằm trên võng. Chính vì gia cảnh đau thương và mối thù giặc cướp nước mà ông Lê Quang Phấn khi trưởng thành đã sớm giác ngộ cách mạng. Ông vào Ðảng Cộng sản Ðông Dương đầu năm 1930 và là một trong những người thành lập Chi bộ đầu tiên của Ðảng Cộng sản Ðông Dương tại Ðà Lạt. Nhà ông là đầu mối liên lạc giữa Ðà Lạt với Nha Trang, Tháp Chàm và là nơi gặp gỡ, đi lại của cán bộ và mở lớp huấn luyện cho các cán bộ, đảng viên của các tỉnh Nam Trung Bộ. Bà Ðỗ Thị Khương vợ ông cũng là một cơ sở của cách mạng; có cống hiến trong việc đóng góp tài chính cho Ðảng, tích cực ủng hộ cán bộ, giúp đỡ huấn luyện và tham gia hoạt động liên lạc. Cuối năm 1931, sau phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp thẳng tay đàn áp các tổ chức cách mạng. Cơ sở Ðảng ở Ðà Lạt bị khủng bố, ông Lê Quang Phấn và vợ bị thực dân bắt giam, nhưng ông bà kiên trung không khai báo. Cho đến khi Cách mạng Tháng Tám 1945 bùng nổ, ông Lê Quang Phấn đã tham gia giành chính quyền ở quê nhà và trở thành Chủ tịch UBND tại thị xã huyện lỵ Thọ Xuân, Thanh Hóa trong thời gian 1945-1947. Sau ngày hòa bình lập lại, ông Lê Quang Phấn cùng gia đình sinh sống tại Hà Nội, trở thành cán bộ của ngành lương thực, thực phẩm cho đến khi hưu trí (1971). Vợ ông là bà Ðỗ Thị Khương được UBND tỉnh Phú Khánh (cũ) cấp Giấy chứng nhận là người "có công giúp đỡ cách mạng chống đế quốc và phong kiến, giành độc lập tự do cho Tổ quốc" (1981) và được Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Ðồng khi đó tặng Bằng "Có công với nước". Hai ông bà qua đời vào năm 1992 và 1993.
Có thể nói, Lê Minh là một dòng họ có ba đời tận trung với nước. Các cụ tiêu biểu cho một thế hệ những người làm cách mạng để giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc và đã phải chấp nhận cảnh nhà tan, tù đày hay hy sinh. Con cháu các cụ ngày nay luôn tự hào về thế hệ tiền bối của mình và tiếp tục nối chí người xưa, nhiều người tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy gian khổ và vẫn xứng đáng với gia phong và truyền thống cách mạng của dòng tộc; nhiều người thành đạt trong xây dựng cuộc sống và đóng góp xã hội...