Tiếng Mông là ngôn ngữ không có chữ viết. Năm 1961, bộ chữ Mông do hai tác giả Nguyễn Văn Chỉnh và Phan Thanh nghiên cứu, biên soạn dựa trên bộ ký tự la-tinh theo nguyên lý ghi âm, lấy ngữ âm ngành Mông hoa ở vùng Sa Pa (Lào Cai) làm chuẩn, có bổ sung một số âm vị của các ngành Mông khác đã được Chính phủ phê chuẩn, sử dụng thống nhất trong phạm vi miền bắc. Nhưng đến nay, do nhiều nguyên nhân, chữ Mông Việt Nam đã không còn phổ biến và hữu dụng. Ngoại trừ một số rất ít người lớn tuổi (khoảng 50 đến 60 tuổi trở lên) được học chữ Mông Việt Nam khi bộ chữ này mới ra đời, hiện chỉ còn một số trí thức người Mông còn sử dụng loại chữ này trong các ghi chép, nghiên cứu về người Mông.
Người Mông mong muốn dân tộc mình có chữ và được học chữ Mông, để biết cách làm ăn, tính toán, để lên mạng tra cứu thông tin, đọc sách báo, để nhắn tin, viết thư giao lưu với người Mông ở khắp nơi, để xem được phim, ca nhạc có phụ đề chữ Mông, để hiểu biết pháp luật, chính sách và hiểu biết hơn về cuộc sống... Bên cạnh những lợi ích thực tế, những giá trị tinh thần liên quan đến việc biết chữ Mông cũng có tầm quan trọng không kém. Đó là việc biết chữ để lưu lại những phong tục tập quán của người Mông: Con trai viết lại những bài khèn, bài cúng, cách làm cái cày, cái cuốc; con gái viết lại cách làm váy áo...
Nhà văn Mã A Lềnh là người nghiên cứu và đã sử dụng chữ Mông Việt Nam trên bục giảng, sách văn học, sách nghiên cứu văn hóa dân gian cho rằng: "Chữ Mông Việt Nam vẫn là chữ Mông tiến bộ nhất. Chúng ta nên đầu tư nghiên cứu, cải tiến thêm một chút, và mở ra nhiều hướng hoạt động, phổ biến, quảng bá chữ Mông Việt Nam. Tôi chắc rằng chữ Mông Việt Nam sẽ thu hút đông đảo đồng bào Mông học. Chúng tôi đã có kinh nghiệm trong suốt 40, 50 năm nay rồi". Còn ông Lầu Văn Chinh (Thái Nguyên), người tham gia soạn giáo trình dạy tiếng Mông bằng chữ Mông quốc tế cho các lực lượng biên phòng, trinh sát, dân vận của Quân khu I lại cho rằng, chúng ta đừng để mất thời gian, đầu tư kinh phí, dùng ký tự này để truyền tải đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đó là những ý kiến tại Hội thảo Chữ Mông Việt Nam - Thực trạng sử dụng, phổ biến và vai trò trong bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộcdo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai và Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) tổ chức cuối năm 2014 tại Lào Cai.
Trên thực tế, nội dung "kỹ thuật", việc giảng dạy và dùng chữ Mông ở Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập, chưa có giáo trình thống nhất, có chỗ sử dụng tiếng Mông Việt Nam, có chỗ sử dụng chữ Mông quốc tế. Chương trình truyền hình tiếng Mông của các tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên sử dụng phụ đề bằng chữ Mông quốc tế từ lâu. Trong khi đó một số trường phổ thông, cao đẳng ở khu vực Tây Bắc lại dùng chữ Mông Việt Nam.
Chữ Mông Việt Nam chỉ được dạy ở những địa bàn có 100% dân số là người Mông, còn ở những nơi đa dân tộc (có cả người Mông và các dân tộc khác cùng định cư) thì việc dạy tiếng Mông ở trong trường phổ thông là không khả thi, nhất là khi mỗi điểm trường chỉ có vài chục học sinh.
Nhu cầu sử dụng chữ viết của người Mông đang hiện hữu như một hiện thực xã hội và cần tạo những cơ sở pháp lý, vật chất, kỹ thuật để người Mông có thể xác định và phổ biến chữ của mình.
Theo tổng điều tra dân số năm 2009, số người dân tộc Mông là 1.068.189 (xếp thứ 8 trong số 54 dân tộc Việt Nam về số lượng và chiếm khoảng một phần 12 tổng số người Mông trên thế giới). Người Mông sống tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía bắc nhưng họ đã có mặt ở 62 trong số 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Số lượng người Mông ở Việt Nam không ngừng tăng lên trong những năm gần đây, ước tính mỗi năm khoảng 30 nghìn người.