Môi trường Quảng Ninh ngày càng bị ô nhiễm

Chưa có số liệu đo, đếm thống kê chính xác nhưng hơn một năm "đào núi, lấn biển" lập khu công nghiệp; khu đô thị; khu du lịch; khu dân cư và đường ven biển, vịnh Hạ Long và Bái Tử Long bị thu hẹp quá lớn. Ðường ven biển Vựng Ðâng - Cột 8 có đoạn đã lấn đến chân đảo đá. Cảng than cây số 6 đã lấp hết 500 ha mặt vịnh. Ðó là chưa kể việc lấn sông, lấn biển chạy suốt từ Kim Sơn (Ðông Triều) đến Cẩm Y, Khe Dây (Cẩm Phả).

Về nguồn nước chảy ra vịnh, báo cáo của Sở Tài nguyên - Môi trường Quảng Ninh nêu rõ: Vịnh Hạ Long như một cái túi đựng phần lớn các chất thải từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt ven bờ gây ra. Chỉ riêng các mỏ than, mỗi năm đã thải ra 30 triệu m3 nước. Nước thải từ mỏ chảy ra vịnh, có nơi riêng độ đục vượt quá mười lần tiêu chuẩn cho phép. Nước đục gây tác hại cho hệ động, thực vật sống trong vịnh, nhất là ở "vùng nước ven bờ".

Ðiều tra của Sở Tài nguyên - Môi trường khẳng định: Nước ven bờ bị ô nhiễm cục bộ; độ đục vượt quá tiêu chuẩn cho phép; lượng ô-xy hòa tan giảm; trong nước có khuẩn gây bệnh... Song, nước biển ở khu vực di sản còn trong, chất lượng các bãi tắm vẫn đạt tiêu chuẩn cho phép.

Trên bờ, bụi mỏ và mưa lũ là vấn đề bức xúc nhất của vùng than. Dọc quốc lộ 18 từ Ðông Triều đến Mông Dương, chiều dài hơn 100 km nhiều đoạn bụi than, bụi đất mù mịt. Người đi trên quốc lộ mà như đi giữa công trường khai thác than vậy. Nhiều khu vực như Vàng Danh, Cẩm Thạch (Cẩm Phả); thị trấn Mạo Khê, dân suốt ngày sống chung với bụi. Bụi than, bụi đất đã vào bữa ăn, giấc ngủ, vào không khí thở của mỗi gia đình. Trung tâm quan trắc môi trường (Sở Tài nguyên - Môi trường Quảng Ninh) cho biết, vì lý do thiếu thiết bị, thiếu kinh phí cho nên không đo đếm được lượng bụi ở những địa danh trên đến mức độ nào.

Nhưng người dân và những người đi đường thường kêu: "bụi không thở được". Bà  Huệ ở phường Vàng Danh (gần kho than Khe Ngát) cho biết: Và miếng cơm   vào mồm bụi cũng vào theo. Anh Thắng ở gần cảng Km 6 (Cẩm Phả)  phản ánh: Vừa nằm ngả lưng xuống giường, lúc ngồi dậy đã thấy rõ phần mình nằm in trên chiếu. Bụi than loáng cái đã như phủ kín mặt chiếu rồi!

Uông Bí,  Mạo Khê, Vàng Danh là những nơi hứng chịu nhiều bụi than nhất. Chính những vùng này, sau những trận mưa lớn, cũng lại là nơi phải gánh chịu nước trôi, lũ cuốn, đất, đá sạt lở... Những trận mưa cuối tháng 7 đầu tháng 8 vừa qua làm vỡ đập chắn Khe Rè, đất đá từ bãi thải của Công ty than Cọc 6 sụt xuống làm sập sáu nhà dân, làm ngập hàng trăm hộ dân khác ở khu 2, khu 4  phường Cẩm Thịnh và thị trấn Cửa Ông. Cũng sau mưa, gần nửa triệu m3 đất đá từ bãi thải Cao Sơn đổ xuống lấp kín cả hệ thống đê chắn và  một cửa lò than ở mức + 36 vỉa 69 của công ty than Mông Dương. Người ta tính toán, khôi phục lại được cửa lò và đập chắn phải chi không dưới 20 tỷ đồng. Ngoài việc khai thác than, Quảng Ninh còn có 49 xí nghiệp, khai thác cát, đá, sỏi, chưa kể đến vài chục xí nghiệp xây dựng, khi san gạt núi, tạo dựng mặt bằng cũng góp phần tạo thêm nhiều bức xúc cho môi trường.

Phá vỡ cân đối trong phát triển, môi trường sống ở vùng than đang bị đe dọa và đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống dân cư. Nhiều kỳ họp HÐND tỉnh Quảng Ninh khẳng định: Chính sản lượng khai thác than tăng nóng đã phá vỡ cân đối trong phát triển. So với quy định được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (QÐ 20/2005/TTg) thì sản lượng than  khai thác năm 2004 đã đạt mức Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2010. Sản lượng  than khai thác năm 2005 là chỉ tiêu được duyệt cho năm 2020. Kế hoạch năm 2006 này, ngành than khai thác 40,4 triệu tấn, phải bóc đi 200 triệu m3 đất đá và đào 250 km đường lò. Thử hình dung sẽ thấy, bao nhiêu đồi núi bị phá đi? Bao nhiêu lòng đất bị đào bới? Bao nhiêu cây cối, đất đá, dòng chảy bị đảo lộn? Trong khi hệ thống vận tải, bến, bãi chứa than, cảng, xe ô-tô vận tải than, đất... đầu tư chưa phù hợp sự tăng tốc của sản xuất.

Ngành than, duy nhất có cảng than Cẩm Phả được đầu tư theo đúng tiêu chuẩn. Còn 63 cảng, bến khác phần lớn là cảng tạm, bến tạm. Than khai thác ở các nơi đều được vận chuyển bằng ô-tô ra các cảng tạm, bến tạm này. Tại thị xã Uông Bí, hơn ba triệu tấn than từ Vàng Danh, Ðồng Vông, Nam Mẫu, được vận chuyển bằng ô-tô, biến một khu vực của thị xã Uông Bí thành đường vận chuyển than. Cũng ở khu vực này cứ một phút có một xe than cắt ngang quốc lộ.

Từ Vàng Danh, than còn được vận chuyển dọc quốc lộ (mặc dù UBND tỉnh đã cấm) đổ về tám bến tạm bên sông Ðá Vách thuộc địa phận xã Kim Sơn, huyện Ðông Triều. Ðể có đủ xe, 15 doanh nghiệp trong ngành than hợp đồng thuê ngoài 1.500 xe vận tải chở than, chở đất đá. Chính những xe thuê ngoài, chạy "khoán" này không những gây ra nhiều bụi bẩn, mà còn gây ra tai nạn giao thông.

Ðầu tháng 8-2006, tỉnh Quảng Ninh làm việc với Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam để tìm cách giải pháp cơ bản, lâu dài phấn đấu cho môi trường sống ở vùng than trong sạch, an toàn. Hai bên nhất trí chấm dứt việc rót than trên vịnh Hạ Long; chấm dứt việc đưa các xe than chạy dọc quốc lộ 18 vào ngày 31-12-2006. Ngành than đã đưa ra 21 công trình bảo vệ môi trường với số tiền đầu tư 50 tỷ đồng, phối hợp địa phương thực hiện. Ngoài ra, còn một loạt nhóm giải pháp để thực hiện Nghị quyết của UBND tỉnh Quảng Ninh về tăng cường công tác quản lý, bảo vệ môi trường Quảng Ninh đến năm 2020 và kế hoạch bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HÐH của Quảng Ninh đến 2010, định hướng 2015. Các giải pháp và nhóm giải pháp đã được trao đổi bàn  bạc thống nhất. Vấn đề còn lại là tổ chức, chỉ đạo và thực hiện như thế nào, để có được kết quả rõ rệt, môi trường sống mỗi tháng, mỗi năm được cải thiện tốt hơn.

Cần điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành than

So với quy hoạch mà Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho ngành than (Quyết định số 20/2005/QÐ-TTg) thì sản lượng than khai thác đã tăng quá nhiều, quá nhanh, vượt qua cả "tầm nhìn 2020" của quyết định. Tăng nhanh sản lượng than đáp ứng nhu cầu của thị trường là cố gắng lớn của cán bộ, công nhân ngành than. Nhưng chỉ tăng nhanh về sản lượng, trong khi các điều kiện phục vụ cho tăng sản lượng chưa kịp đầu tư, đã phá vỡ đi các quy hoạch về vận tải, bến bãi, cảng tiêu thụ than. Nhất là việc tăng quá nhiều đầu xe vận chuyển than trên các tuyến Vàng Danh, Ðiền Công; Mạo Khê - bến Cân; Mạo Khê - Kim Sơn; Hà Khánh - Cầu Bang; Hà Tu - Hà Lầm - cầu Trắng xuống cấp nghiêm trọng. Ngày mưa các tuyến đường này biến thành đầm lầy, nước bùn tràn vào các nhà dân. Ngày nắng bụi mù mịt, quét dọn, tưới nước, quyết tâm bảo vệ môi trường đến mấy cũng không lại được. Vì thế, Chính phủ và các bộ cần điều chỉnh lại quy hoạch phát triển sản xuất than phù hợp thực tế, phù hợp quá trình phát triển kinh tế xã hội của Quảng Ninh.

NGUYỄN VĂN HÀ
(Phường Hà Tu - Hạ Long)

Quy hoạch lại các bến, bãi cảng xuất than

Mấy chục năm khai thác than, nhưng cả ngành than, mới chỉ có duy nhất cảng than Cẩm Phả là được đầu tư xây dựng và mở rộng. Hiện cảng Cẩm Phả cùng một lúc có thể nhận hai tàu vào lấy than có trọng tải từ 3 - 5 vạn tấn cập cầu. 63 cảng xuất than khác, hầu như chưa được quy hoạch đầu tư, một số bến bãi trên cảng chưa được cấp phép, nhưng các doanh nghiệp vẫn cứ lấn sông, lấn biển đổ than, lấp bến. Một khu vực bến Cân chưa đầy một km bờ sông, có đến chín cảng do nhiều đơn vị khác nhau quản lý. Cơ quan quản lý nhà nước cũng có hai đơn vị cùng quản lý trong một khúc sông. Ðó là cảng thủy nội địa khu vực 2 và cảng thủy nội địa Quảng Ninh. Khu vực km 6 Cẩm Phả có hàng chục cảng do nhiều đơn vị khác nhau quản lý: tư nhân có, Nhà nước có, quân đội có... lấn đất, lấn biển, chiếm đất, lập cảng, tranh giành nhau bãi đổ than là chuyện thường xảy ra.

Ðể lập lại trật tự, bảo vệ môi trường, cần phải tổ chức, quy hoạch lại cảng xuất than cho từng khu vực, chấm dứt việc đổ than tạm, lập cảng tạm như hiện nay. Mỗi khu vực chỉ có một cảng, và do một pháp nhân làm chủ. Doanh nghiệp nào muốn bốc xếp than thì thuê lại cảng, dứt khoát không được lập cảng riêng.

VŨ THIẾT
(HÐND tỉnh Quảng Ninh)

Chấm dứt việc khai thác than lộ thiên ở Ðông Triều

Ðông Triều có diện tích xấp xỉ 400 km2. Trong diện tích này, ngành than đã quản lý và khai thác 94 km2, chiếm gần 1/4 diện tích toàn huyện. Ngoài khai thác hầm lò, các mỏ Mạo Khê, Hồng Thái (Tổng công ty Ðông Bắc); Xí nghiệp Khai thác, Chế biến và Kinh doanh than còn khai thác các lộ vỉa, đổ thải đất đá không theo một quy hoạch nào. Sau mỗi trận mưa, đất đá trôi lấp hồ, sông, suối... gây nhiều bức xúc cho nhân dân. Việc vận chuyển than đi qua đường dân sinh của các xã Tràng Lương, Bình Khê, thị trấn Mạo Khê để ra khu vực bến Cân và các bến bãi trong khu vực Kim Sơn không những chỉ gây bụi mà còn lấp đi sông, suối, đang gây rất nhiều khó khăn cho địa phương.

Theo chúng tôi, khai thác than ở một huyện lúa như Ðông Triều lợi bất cập hại, huyện sẽ phải trả giá đắt cho việc bảo vệ môi trường, giá này nhiều khi không tính toán nổi. Vì thế cần chấm dứt việc khai thác than lộ thiên ở huyện Ðông Triều và hạn chế việc tăng sản lượng than ở các mỏ trên địa bàn huyện.

NGUYỄN THỊ THÂN,
Chủ tịch UBND huyện Ðông Triều

Có thể bạn quan tâm