Kinh tế tư nhân khẳng định vai trò động lực
Những năm gần đây, khu vực kinh tế tư nhân tại thành phố Cần Thơ phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Với hàng chục nghìn doanh nghiệp đang hoạt động cùng tổng vốn đăng ký lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng, khu vực này ngày càng đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng GRDP của địa phương.
Không chỉ mở rộng quy mô, nhiều doanh nghiệp đã xây dựng được thương hiệu uy tín, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Sản phẩm của các doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất tại Cần Thơ ngày càng xuất hiện nhiều trong các hệ thống bán lẻ hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại. Trung bình mỗi tháng, hàng trăm tấn hàng hóa được tiêu thụ qua các kênh này, góp phần ổn định đầu ra cho sản phẩm địa phương.
Bên cạnh đó, thành phố tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại như hội chợ, triển lãm, kết nối cung-cầu, giao thương liên vùng. Việc quảng bá sản phẩm tại các thị trường lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội hay Phú Quốc đã giúp doanh nghiệp từng bước mở rộng thị trường, nâng cao giá trị sản phẩm.
Một trong những mô hình tiêu biểu là Hợp tác xã Kỳ Như tại xã Long Thạnh, thành phố Cần Thơ. Hiện đơn vị này phát triển 14 sản phẩm chủ lực từ cá thát lát, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường nhờ sự kết hợp giữa nỗ lực nội tại và chính sách hỗ trợ từ địa phương.
Bà Nguyễn Kim Thùy, Giám đốc Hợp tác xã Kỳ Như cho biết, hợp tác xã có hơn 50 thành viên với vùng nguyên liệu khoảng 16ha. “Hợp tác xã không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số trong quá trình sản xuất. Cá thát lát nguyên liệu được nuôi theo quy trình VietGAP, ghi chép nhật ký đầy đủ để kiểm soát chất lượng, cộng thêm tới đây nếu được hỗ trợ từ Nghị quyết 68 doanh nghiệp sẽ phát huy hiệu quả hơn”, bà Thùy chia sẻ.
Ở góc độ logistics, ông Phạm Tiến Hoài, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Hạnh Nguyên Logistics nhận định, khu vực đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn thiếu các chính sách tín dụng đặc thù để hỗ trợ phát triển thế mạnh kinh tế tư nhân. Theo ông, Nghị quyết 68 sẽ đóng vai trò là “đòn bẩy” giúp doanh nghiệp mạnh dạn mở rộng thị trường.
Ông Hoài cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện hạ tầng giao thông: “Khi các công trình kết nối được đẩy nhanh tiến độ, hàng hóa sẽ được luân chuyển thuận lợi, giảm chi phí logistics, từ đó nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp đầu tư tại miền Tây”.
Song song đó, cải cách thủ tục hành chính và hoàn thiện thể chế cũng được xem là yếu tố then chốt. Việc đơn giản hóa quy trình sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, chi phí và tận dụng tốt hơn các cơ hội kinh doanh. “Cùng với sự quyết tâm, đồng lòng, chung vai sát cánh, giới doanh nghiệp chúng tôi sẽ vượt qua tất cả những khó khăn, ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế địa phương”, ông Hoài khẳng định.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, khu vực kinh tế tư nhân vẫn đối mặt với nhiều thách thức như quy mô doanh nghiệp nhỏ, năng lực cạnh tranh hạn chế, khó tiếp cận nguồn vốn và sự liên kết giữa các thành phần kinh tế còn yếu. Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vẫn đang trong giai đoạn hình thành, chưa tạo được sức bật rõ rệt.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 68 được đánh giá là bước đột phá về tư duy, khi khẳng định rõ kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Đây không chỉ là sự ghi nhận mà còn mở ra cơ hội để khu vực này đóng vai trò tiên phong trong tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất và thúc đẩy chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững.
Tín hiệu tích cực từ ngành lúa gạo
Một minh chứng rõ nét cho sự chuyển mình của doanh nghiệp miền Tây là việc xuất khẩu thành công lô gạo Japonica mang thương hiệu “Gạo Việt xanh phát thải thấp” sang thị trường Nhật Bản. Lô hàng 500 tấn do Công ty Cổ phần Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An thực hiện, với sự hợp tác của Tập đoàn MURASE (Nhật Bản), không chỉ có ý nghĩa về mặt thương mại mà còn đánh dấu bước tiến quan trọng trong tư duy sản xuất nông nghiệp.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam đánh giá cao nỗ lực của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong việc tạo ra sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao. Ông cho rằng, sự chuyển đổi từ tư duy sản xuất số lượng sang chất lượng và bền vững là yếu tố then chốt.
“Truyền thống, người nông dân tận dụng, khai thác triệt để đất đai để tạo ra nhiều sản lượng lúa gạo. Nhưng thông qua Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao, bà con đã kết hợp giữa khai thác hiệu quả đất đai với bồi bổ, tạo dinh dưỡng, đảm bảo sức khỏe cho đất gắn với giá trị gia tăng. Đây là một quá trình chuyển đổi tư duy sâu sắc”, Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh.
Lô gạo xuất khẩu này có giá 820 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với mức trung bình 650–700 USD/tấn ở các thị trường khác. Theo ông Phạm Thái Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Phó Tổng Giám đốc Công ty Trung An, đây là tín hiệu tích cực, tạo động lực để doanh nghiệp và nông dân tiếp tục theo đuổi mô hình sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải.
Ông Bình cho biết thêm, nhu cầu gạo phát thải thấp trên thị trường quốc tế, đặc biệt là Nhật Bản, vẫn còn rất lớn. Tuy nhiên, sản lượng hiện tại của Việt Nam chưa đáp ứng đủ. “Đây chính là cơ hội để doanh nghiệp mở rộng sản xuất và nâng cao giá trị sản phẩm. Nghị quyết 68 ra đời đúng thời điểm sẽ tạo thêm động lực để chúng tôi bứt phá”, ông Bình nhận định.
Để đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe của thị trường Nhật Bản, doanh nghiệp và nông dân phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình canh tác, trong đó tiêu chí phát thải thấp chỉ là một trong hàng trăm yêu cầu kỹ thuật. Tuy vậy, khi đã đạt được các tiêu chuẩn này, sản phẩm gạo Việt Nam sẽ có lợi thế lớn khi tiếp cận các thị trường khó tính khác.
Từ năm 2020, Công ty Trung An đã hợp tác với Tập đoàn MURASE trong sản xuất lúa chất lượng cao. Đến giai đoạn 2024–2025, hai bên tiếp tục nâng cấp hợp tác, hướng tới sản xuất theo tiêu chí của Đề án một triệu hecta lúa chất lượng cao, vừa nâng cao chất lượng, vừa đảm bảo yếu tố môi trường.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt và những biến động từ thị trường quốc tế, doanh nghiệp miền Tây đang đứng trước nhiều áp lực. Nghị quyết 68 được kỳ vọng sẽ trở thành “cú hích” quan trọng, mở ra không gian phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên, để nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, cần có sự triển khai đồng bộ từ các cấp, ngành, đặc biệt là các chính sách cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường. Chỉ khi những chính sách này được thực thi hiệu quả, kinh tế tư nhân mới có thể phát huy tối đa vai trò, trở thành động lực tăng trưởng bền vững cho vùng đồng bằng sông Cửu Long và cả nước.