Mấy vấn đề phê bình văn học hiện nay

Trong những năm gần đây, thực trạng và xu hướng vận động của phê bình văn học đang trở thành một trong những vấn đề thu hút sự quan tâm không chỉ của các tác giả văn học, mà còn là sự chú ý công chúng yêu văn học. Ðã có nhiều sự phân tích khác nhau về phê bình văn học hiện nay và dưới đây là ý kiến của PGS, TS Trịnh Bá Ðĩnh (Viện Văn học).  

Lý luận phê bình văn học đang phát triển hay đang khủng hoảng, tụt hậu? Trong đời sống văn học hiện nay, nó hữu dụng hay vô dụng (quả thật có những người cho là như vậy khi các hiện tượng văn học mới lạ xuất hiện mà không thấy tiếng nói của các nhà lý luận phê bình)? Văn học là gì, lý luận phê bình văn học là gì? Nó đang ở vị trí nào trong cấu trúc văn hoá đương đại? Những câu hỏi như vậy và tương tự như vậy giờ đây đang (lại) được đặt ra và hầu như không thể có được câu trả lời thống nhất. Trong khoa học, sự không thống nhất chưa chắc đã là dấu hiệu của yếu kém, có khi lại là dấu hiệu của sự phát triển, tuy nhiên, lúc này có lẽ chúng ta cũng cần đạt tới một xu hướng đánh giá chung, ít nhất là trên một số mặt cơ bản nào đó. Ðể đi tới một nhận thức ít nhiều có sự thống nhất trong việc đánh giá trạng thái hiện tại của lý luận phê bình văn học hiện nay và đề xuất hướng phát triển về sau, tôi đề nghị mấy điểm sau:

Thứ nhất: Cần có sự phân biệt rạch ròi giữa hiện thực đời sống và hiện thực nghệ thuật trong tác phẩm. Ðiều này cũng đã được nói tới nhiều, song hiện nay chúng ta vẫn thấy những cách đánh giá tác phẩm đại loại: 'tác phẩm chưa phản ánh được chân thực cuộc sống', 'chỉ phản ánh mặt tiêu cực, chưa thấy mặt tích cực', rồi những sự khuyến khích: 'Cần đi sâu hơn nữa vào đời sống'.... Ðây là cách đánh giá của quan niệm nhấn mạnh quá mức đến chức năng nhận thức đời sống của văn học, coi văn học là sự phản ánh đời sống. Văn học - nghệ thuật dĩ nhiên có nguồn gốc từ đời sống, chất liệu của nó có phản ánh đời sống. Vào thời kỳ đầu 'đổi mới' nhà lý luận Lê Ngọc Trà đưa ra quan điểm: Văn học không phản ánh mà là nghiền ngẫm về hiện thực. Văn học không thể không phản ánh hiện thực (cũng như mọi hình thái ý thức khác), nó tất yếu mang dấu ấn của đời sống đương đại (triết học, sử học... cũng như vậy). Nhưng đó là xét về khía cạnh triết học. Nội dung trước hết của văn học là thể hiện chủ thể sáng tạo: tâm lý học của nó, các trải nghiệm ngôn ngữ của nó. Nếu chỉ căn cứ vào phản ánh luận không thể nào giải thích được các tác phẩm thuộc phái dòng ý thức và phái hậu hiện đại đang thịnh hành hiện nay. Luận điểm của GS, TS Lê Ngọc Trà rất có ý nghĩa vào thời điểm đó, song về khoa học, theo tôi chỉ đúng một nửa mà thôi. Từ đây tôi nghĩ đến quan điểm của một nhà cách mạng Nga về Tôn-xtôi mà một thời chúng ta hay trích dẫn. Ông cho rằng: Nếu Tôn-xtôi là nhà văn thật sự vĩ đại thì trong tác phẩm của ông phải phản ánh được những nét cơ bản của Cách mạng Nga. Tôi nghĩ đòi hỏi đó là chưa thỏa đáng. Tôi nghĩ, Tôn-xtôi vĩ đại vì ông đã tạo nên một thế giới tinh thần và ngôn từ nghệ thuật riêng biệt, to lớn.

Thứ hai: Cần thấy sự phân biệt giữa xu hướng tập trung hóa và phi tập trung hóa trong hoạt động văn nghệ nói chung và lý luận phê bình nói riêng hiện nay. Trước đây chúng ta chỉ có một trung tâm văn nghệ với vài ba tờ báo, tạp chí văn nghệ chính ở Thủ đô, một Hội Văn học - Nghệ thuật trung ương rồi các Hội Văn học-Nghệ thuật địa phương, các báo, tạp chí địa phương, chúng mô phỏng lại mô hình trung ương. Cơ chế hoạt động là Trung tâm phát tín hiệu, các bộ phận gần như chỉ thực thi theo kiểu: đèn đỏ - dừng lại, đèn xanh - lưu thông. Giờ đây đã có nhiều sự thay đổi với vai trò của in-tơ-nét và nhiều phương tiện truyền thông khác. Các trang web, blog xuất hiện rất nhiều, liên thông với nhau, liên thông với quốc tế. Mô hình trung tâm - ngoại vi còn đó, song áp lực từ trung tâm đã yếu đi nhiều. Các nhóm, phái văn học trong nước có thể dễ dàng liên kết với các tổ chức khoa học, văn học quốc tế theo các kênh riêng của mình. Không nên thấy sự thiếu nhất trí, không đồng bộ, trên bảo dưới không nghe trong hoạt động văn nghệ mà cho là khủng hoảng, mất phương hướng. Ðời sống lý luận phê bình văn học của chúng ta hiện nay đang bị chi phối bởi hai xu hướng này và có vẻ nó như đang ở thế 'cân bằng'. Xu thế phi tập trung hóa từng phần đang tiếp tục diễn ra.

Thứ ba: Cần có sự phân biệt giữa hai loại phê bình: phê bình hàn lâm và phê bình truyền thông. Phê bình hàn lâm hoạt động chủ yếu ở các viện nghiên cứu, các trường đại học, phê bình truyền thông gắn với các tòa báo, nhà xuất bản, đài truyền thanh, truyền hình. Phê bình truyền thông là người cổ xúy và theo dõi sự tiêu dùng tinh thần ở người đọc. Nó rất cần trong xã hội tiêu dùng hiện đại, việc nó lăng-xê, cổ xúy có lúc hơi thái quá cho một tác phẩm, tác giả nào đó không phải là điều gì đáng lo ngại. Nếu phê bình truyền thông chú ý trước hết đến hoạt động, hiệu lực của tác phẩm văn học trong đời sống, nhà phê bình ở đây giống như nhà từ vựng học theo dõi hoạt động của các từ trong đời sống nói năng hằng ngày thì phê bình hàn lâm chủ yếu mô tả 'ngữ pháp của văn học' (nhà phê bình như nhà ngữ pháp học), tức các nguyên tắc tổ chức nên một tác phẩm, một thời đại văn học. Nếu thấy nó ít đi vào đời sống cũng không phải là điều cần phê phán. Ðáng chú ý là cả hai loại phê bình này ở ta đều đang phát triển. Vấn đề phê bình văn học truyền thông, nhất là trên in-tơ-nét đã làm thay đổi rất nhiều diện mạo của phê bình văn học. Ðiều rất đáng chú ý là trước đây Nhà nước có vai trò quan trọng nhất chi phối đời sống phê bình thì nay những tổ chức nắm các công ty truyền thông cũng có quyền lực không phải nhỏ. Các công ty có thể tự xuất bản sách, rồi sử dụng hệ thống truyền thông của mình tác động đến công chúng văn học.

Thứ tư: Ðể lý luận phê bình phát triển, cần một sự thống nhất giữa tính hiện đại và tính nhân văn. (Hai yếu tố này được nhà lý luận Tiền Trung Văn nêu lên ở Trung Quốc và tôi cũng đồng ý với quan điểm của ông). Không có tính hiện đại, lý luận phê bình của chúng ta sẽ lạc hậu, 'khác người'; thiếu tính nhân văn, nó sẽ đánh mất bản chất của mình với tư cách là một khoa học nhân văn. Làm điều kiện cho sự thống nhất này là một môi trường đề cao sự đối thoại. Ðối thoại không chỉ là việc được tự do trao đổi, tranh luận, mà hơn thế còn phải có ý thức sâu sắc về quan hệ giữa cái ta và cái khác. Ta chỉ tồn tại khi có người khác, tôi chỉ có tên gọi khi có người khác đặt tên cho tôi; phương Ðông chỉ là phương Ðông khi biết rằng có một thế giới khác là phương Tây trong khi trước đấy với nó chỉ có một bầu trời, một hoàng đế, một thiên hạ.

Thứ năm: Giờ đây ở ta, nhiều lý thuyết phê bình như Thi pháp học, Cấu trúc ký hiệu học, Phân tâm học, Thông diên học, Tự sự học,... được giới thiệu sôi nổi, nhiều mầu vẻ, cảm tưởng như đang có một carnaval các lý thuyết phê bình, điều ấy chứng tỏ chúng ta đang cố gắng hội nhập với thế giới, đang cố gắng hiện đại hóa. Tuy nhiên một nền lý luận phê bình có bản sắc và tự trọng bao giờ cũng cần có một chủ hướng rõ ràng. Tôi thiển nghĩ ở ta nên chủ hướng đề cao loại lý thuyết phê bình tìm kiếm những giá trị nhân văn trong văn học, coi nghệ thuật trước hết nhằm cổ vũ lòng dũng cảm, chia sẻ những bất hạnh của con người, chất vấn về lẽ sinh tồn của con người; coi hoạt động lý luận phê bình như một bộ phận không thể tách rời với các khoa học nhân văn, tức luôn phối hợp với các bộ môn khác như triết học, sử học, văn hóa học trong sự việc tìm tòi khoa học của mình.

Có thể bạn quan tâm