Họ. Một trăm năm mươi sáu nhân khẩu, chưa một ai mang quốc tịch Việt Nam. Họ. Một trăm năm mươi sáu con người, đủ già, trẻ, gái, trai, chưa ai là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ đến từ đất nước Lào, tuy chẳng xa xôi gì song vẫn cứ là cách trở núi, sông, biên giới. Một bản mới hình thành và đang từng ngày thay da đổi thịt trên vùng đất biên cương ấm tình đoàn kết, giàu nghĩa thủy chung giữa hai dân tộc Việt - Lào.
Bản A Dơi Ðớ - bản của người Lào trên đất Việt, đêm đêm sáng bừng ánh điện, ngày ngày rộn vui bước chân con trẻ tung tăng cắp sách đến trường. Bản được như hôm nay là nhờ sự quan tâm của các cấp chính quyền, bằng tấm lòng bao dung, nhân hậu, đùm bọc, sẻ chia của người dân các bản làng Vân Kiều, Pa Kô ở bản A Dơi - Hướng Hóa và bằng cả trách nhiệm, trái tim của cán bộ, chiến sĩ Ðồn Biên phòng 617 - Bộ Chỉ huy Biên phòng Quảng Trị.
Trung tá Nguyễn Ngọc Hiệu, Chính trị viên đồn 617, đưa tôi đến bản A Dơi Ðớ bằng xe máy. Con đường đến bản đổ cấp phối nhưng ít ổ gà và khá rộng, đủ cho những chiếc xe tải hạng trung thoải mái vào bản chở sắn tránh nhau. Bám theo con đường là hàng cột điện len lỏi giữa đồi núi, suối khe, cây rừng để mang điện lưới quốc gia thắp sáng bản làng.
Ðang là mùa khô, biên giới nhuộm vàng sắc nắng mầu mật ong sóng sánh, những cánh rừng mơn mởn xanh bởi ngàn vạn búp chồi non sau mùa thay lá. Anh Hiệu điều khiển xe chạy tốc độ chậm và kể chuyện về bản A Dơi Ðớ của người Lào trên đất Việt: Một buổi sáng tháng 7 -2000 trời mưa nặng hạt, cả đơn vị đang chuẩn bị triển khai công tác địa bàn thì ngoài cổng xuất hiện một người dân sùm sụp áo che mưa đến đồn báo tin "Ở bản A Dơi Ðớ của mình có đông lắm người từ Lào mới sang tối hôm qua, họ đang chặt cây để làm nhà trên đất của bản mình đấy". Chúng tôi có mặt thì đã thấy cả trăm con người ngồi túm tụm dưới mưa, ướt át, tái nhợt vì đói, rét. Tuy biết đây là những người Lào di cư sang nhưng nhìn thấy cảnh người dân bị đói rét nên chúng tôi động viên dân ở bản cho họ vào trú tạm để sưởi ấm và cho họ gạo nấu ăn. Khi đã tạm qua cơn đói, rét, anh em chúng tôi hỏi lý do vì sao họ lại kéo cả bản sang Việt Nam thì Trưởng bản thản nhiên nói "Bản mình trở về Việt Nam vì nhớ cái bản ngày trước nhiều lắm".
- Sao họ nói là trở về Việt Nam hả anh, chẳng nhẽ đồng bào không hiểu về Hiệp định, hiệp nghị biên giới đã được hai Nhà nước ký kết? Tôi cắt ngang lời kể của anh. Anh Hiệu cười và giải thích. - Họ hiểu hết, biết hết nhưng nguyên nhân là thế này. Trước đây bản A Dơi Ðớ (Tiếng Pa Kô gọi là bản A Dơi nước để phân biệt với bản A Dơi khô) khá đông hộ dân sinh sống. Chiến tranh diễn ra, nơi đây máy bay Mỹ suốt ngày thả bom và rải chất độc hóa học nên một số người dân rủ nhau lập bản mới trong những cánh rừng ở bên kia sông Sê Pôn. Năm 1978, sau khi hoạch định biên giới, vùng đất ấy được ta bàn giao cho bạn, thế là họ trở thành công dân của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Anh Hiệu cho xe dừng lại trước ngôi nhà sàn lợp tôn, thưng ván gỗ, rộng và khá đẹp, phía dưới có chiếc xe máy cũng mới như ngôi nhà dựng sát chân cầu thang.
Tôi quan sát khắp bản và không kìm giữ được cảm xúc của mình. Một bản nhỏ với 36 nóc nhà sạch sẽ chia đều, đối xứng nhau bởi một con đường lớn. Mầu xanh từ những búp chồi non của xoài, nhãn, cà-phê làm dịu mát và trong lành đôi mắt nhìn. Ngước lên mỗi nóc nhà, chọc vút nền trời xanh thẳm là những chiếc cần ăng-ten thu sóng truyền hình. Sân bóng chuyền mỗi buổi chiều tề tựu thanh niên bản. Nhịp sống tươi vui đang xóa đi sự lam lũ, khắc khổ, đói rét nơi góc khuất của những cánh rừng.
Lời giới thiệu từ anh Hiệu kéo tôi khỏi dòng cảm xúc "Ðây là nhà của Trưởng bản Pả Dung". Chúng tôi lên cầu thang lắng nghe tiếng nói xởi lởi của vị chủ nhà có dáng người hơi thấp nhỏ nhưng nhanh nhẹn". Con Hiệu đến thăm bản và thăm bố đấy à? Hôm ni phải ở lại ăn cơm với bố đấy nhé, không được như lần trước mô, đến giúp bản làm đường, khám bệnh cho người ốm rồi về đồn ăn cơm".
Tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy ti-vi, dàn hát karaoke, quạt, nồi cơm điện... hiện diện đầy đủ trong nhà của ông. Pả Dung tiếp chúng tôi bằng bia Huda mà là bia lon còn nguyên cả hộp. Sau lời chúc sức khỏe và phải cố gắng uống hết lon bia ông mời, tôi hỏi ông: - Thế bố làm nhà ở đây được mấy năm rồi? Bản mình có nhiều gia đình giống như nhà của bố không? Thong thả bập, phả làn khói thuốc mỏng manh từ chiếc tẩu đen nhánh, ông chậm rãi trả lời: - Bản mình về đây gần được bảy năm rồi. Lúc đầu cũng có nhiều cái khổ, cái thiếu lắm nhưng bây giờ thì bớt khổ hung rồi. Bản có nhiều niềm vui như ri là nhờ đồn biên phòng của bộ đội Hiệu, nhờ chính quyền xã A Dơi, chính quyền huyện Hướng Hóa, của tỉnh Quảng Trị nữa, của cả bà con ở các bản giúp đỡ nhiều đấy. Mấy mùa rẫy ni, bản trồng được nhiều cây, sẵn km 94 bán cho nhà máy ngoài xã Thuận nên bản mới có nhiều nhà mua được cái xe máy, cái ti-ti. - Thế hiện tại, bản ta được hưởng những quyền lợi gì? - Cũng giống như các bản khác trong xã A Dơi ni. Bản mình được huyện, xã và bộ đội biên phòng cho con đường, cho điện thắp sáng này. Trẻ con được đến trường học chữ này, ai đau ốm đều được khám, uống thuốc không phải mất tiền đâu. Mấy ngày hôm nay huyện đang cho cái máy vô ủi đất cho bản để trồng cây cao-su. Rứa là cây sắn km 94 và cây cao-su sẽ làm cho bản mình có nhiều nhà giàu rồi. Nói về sự đổi thay của bản A Dới Ðớ, anh Hiệu góp thêm những thông tin đáng mừng. Cách đây hai năm thôi, cả bản mới chỉ 20 nhà có xe máy và ti-vi, nhiều nhà thiếu ăn khi mùa giáp hạt. Còn bây giờ, như anh thấy đấy, bản đã có tám chiếc xe máy, gần một nửa bản có ti-vi, những hộ làm ăn khấm khá đã mua được dàn karaoke, thiết bị, đồ dùng sinh hoạt hiện đại. Bản như thay da đổi thịt mỗi ngày. Tạm biệt nhà Trưởng bản Pả Dung, chúng tôi ghé thăm gia đình ông Hồ Văn Vang. Ông Vang năm nay 74 tuổi nhưng còn khỏe lắm, ông vừa đi làm cỏ sắn trên rẫy về, mồ hôi chưa kịp khô trên khuôn mặt sạm nắng nhưng rạng rỡ của ông. Ðón chúng tôi, ông sai đứa cháu chạy sang quán bên kia đường mua bia về đãi khách rồi giọng ông vui vẻ "Cái rẫy sắn mùa ni tốt lắm, chắc sẽ cho nhiều củ đây. Năm ngoái bố thu hoạch, bán cho nhà máy chế biến tinh bột sắn được 20 triệu đồng, bố mua xe máy, mua ti-vi cho cả nhà xem phim, xem tin tức". Tuy chưa rộng và đẹp như nhà của Pả Dung song ngôi nhà ông Vang cũng thuộc vào loại "đáng mặt anh hào" của bản. Tôi hỏi ông về một cháu bé đang chăm chú đánh vần những chữ cái trong quyển sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1 "Ðây là con hay cháu của bố, cháu học lớp mấy rồi?". "Cháu nội đó, nó tên là Hồ Văn Moa, mẹ nó đẻ nó tại trạm xá xã A Dơi khi bản mới sang đây chưa nhìn đủ một mùa trăng sáng, năm ni nó vào học lớp 1 ở Trường Tiểu học xã A Dơi" - Ông trả lời tôi. - Thế bản của bố có nhiều trẻ con đi học không? Tôi hỏi tiếp ông Vang. - Hết cả trẻ con trong bản đều được đi học mà. Ðứa nhỏ thì học mẫu giáo, đứa lớn thì đi học ở trường ngoài xã. Năm ngoái bản mình có thằng Hồ Văn Hưu được xã cho về Ðông Hà để học y tá đấy. Mừng cho bản mình hung.
Qua những nhân chứng mà tôi được tiếp xúc thì dường như trong họ không còn suy nghĩ mình chưa phải là công dân của xã A Dơi, của huyện Hướng Hóa, của tỉnh Quảng Trị vì tất cả mọi người ở bản đều được hưởng mọi chính sách ưu đãi giống như những bản làng khác của Việt Nam. Chỉ tính riêng thu nhập từ cây sắn, bình quân hằng năm hộ thu nhập thấp nhất là 10 triệu đồng, hộ nhiều gần 30 triệu đồng. Sau mỗi vụ thu hoạch sắn km 94, bản A Dơi Ðớ lại có thêm nhiều xe máy, nhiều ti-vi, nhiều nhà xây. Niềm vui no ấm đang dần đẩy lùi khó khăn, cơ cực, nghèo đói ra khỏi bản để dẫu chưa một ai ở bản A Dơi Ðớ được mang quốc tịch Việt Nam song họ vẫn đặt tay mình lên phần ngực trái mỗi khi hát bài Quốc ca Việt Nam. Tạm biệt A Dơi Ðớ, tạm biệt những công dân nước bạn Lào đang sống yên bình, no ấm trên đất Việt Nam trong ráng chiều sẫm đỏ. Mặt trời đã vượt qua đỉnh cao nhất của Trường Sơn đại ngàn để ẩn xuống phía tây. Trên đường trở lại Ðồn 617, tôi gặp ba chiến sĩ biên phòng đang xuống với bản A Dơi Ðớ. Họ mỉm cười chào tôi. Nụ cười rạng rỡ niềm vui. Nắng hoàng hôn nhạt mầu, tiết trời dịu mát. Biên cương bình yên trong tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc Việt - Lào.
NGUYỄN THÀNH PHÚ
(Quảng Trị)