Hỏi: Thưa ông, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam thời gian qua? Thực trạng của vấn đề này hiện nay?
Tiến sĩ Dương Quốc Trọng: Vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam bắt đầu nóng lên từ năm 2006. Tỷ số giới tính khi sinh (SRB) tại Việt Nam tăng cao một cách bất thường và tăng nhanh nên rất thu hút sự chú ý của dư luận.
Tỷ số giới tính khi sinh là số bé trai trên 100 bé gái lúc chào đời. Theo quy luật sinh sản tự nhiên, khi thống kê trên một mẫu lớn, tỷ số giới tính khi sinh sẽ dao động trong khoảng 103-106. Nếu hơn 107 là bất thường và nếu trên 110 là dấu hiệu rất đáng báo động. Thông thường, tỷ suất tử vong của trẻ em trai sẽ cao hơn trẻ gái và do đó, đến tuổi kết hôn, số lượng nam nữ sẽ bằng nhau. Lựa chọn giới tính làm thayđổi quy luật tự nhiên, tạo nên sự bất thường và sẽ dẫn đến nhiều hệ luỵ sau này.
Năm 2006, tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam là 110 trẻ trai/100 trẻ gái. Năm 2007, con số này là 111; năm 2008 đã tới mức 112; năm 2009 là 110,5 và năm 2010 là 111,2. Do ảnh hưởng của tư tưởng muốn có con trai nên nhiều phụ nữ đã áp dụng lựa chọn giới tính trước sinh, dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam mang năm nét đặc thù.
Thứ nhất, mất cân bằng giới tính khi sinh xuất hiện muộn hơn so với các nước có nền văn hoá tương đồng với Việt Nam và có tỷ số giới tính khi sinh cao, thí dụ như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Azerbaijan… Ở Trung Quốc, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã xuất hiện từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước. Hiện nay, tỷ số giới tính khi sinh ở Trung Quốc lên tới 122,8 và quốc gia này hiện thừa khoảng 30 triệu nam giới. Tại Việt Nam, mất cân bằng giới tính khi sinh xuất hiện muộn hơn nhưng tăng rất nhanh, tăng mỗi năm tới 1 điểm phần trăm trong khi các nước khác chỉ tăng từ 0,4 đến 0,5 điểm phần trăm.
Thứ hai, tỷ số giới tính khi sinh ở Việt Nam cao ngay từ lần sinh đầu tiên, chứng tỏ các bà mẹ đã chọn lọc giới tính ngay từ lần sinh đầu. Đây là hai đặc điểm riêng của nước ta.
Thứ ba, tỷ số giới tính khi sinh tăng cao ở lần sinh cuối cùng, hay được hiểu là quy luật “dừng” trong nhân khẩu học.
Thứ tư, tỷ số giới tính khi sinh tăng ở những khu vực có nền kinh tế phát triển như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh... Đặc biệt ở khu vực chung quanh Hà Nội như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang, Hà Nam… do nhiều gia đình có điều kiện ứng dụng khoa học công nghệ cao. Riêng sáu tháng đầu năm nay, tỷ số giới tính khi sinh tại Hà Nội là 118 bé trai/100 bé gái.
Cuối cùng, tỷ số giới tính khi sinh tăng ở những gia đình có kinh tế khá giả, phụ nữ có trình độ học vấn cao và có lần sinh ít. Trên bình diện cả nước, có 46/63 tỉnh xuất hiện tỷ số giới tính khi sinh cao. 35 địa phương trong danh sách này có tỷ số giới tính khi sinh cao hơn mức 110. Và xu hướng tỷ số giới tính khi sinh tăng cao sẽ không chỉ dừng ở 46 địa phương này.
Có ba nhóm nguyên nhân chính tạo nên tình trạng mất cân bằng giới tính hiện nay.
Trước hết là mong muốn có con trai để nối dõi tông đường. Đây cũng là nhóm nguyên nhân cơ bản thuộc về văn hoá lâu đời của người Việt Nam.
Nguyên nhân thứ hai liên quan đến vấn đề kinh tế do cần con trai là chỗ dựa lúc tuổi già. 70% dân số Việt Nam sống ở nông thôn và thường có quan niệm người già phải sống với con trai. Còn ở những khu vực cần đến lao động nặng nhọc của nam giới như vùng biển, lao động nữ sẽ gặp khó khăn trong phát triển kinh tế.
Nguyên nhân cuối cùng là do các cặp vợ chồng thực hiện lựa chọn giới tính trước, trong và khi mang thai nhờ sự tiến bộ của công nghệ.
Hỏi: Mất cân bằng giới tính khi sinh phải chăng là do người dân có điều kiện tiếp cận với các phưong tiện khoa học - công nghệ. Thông tin trên các diễn đàn của internet về sinh con theo ý muốn cũng rất nhiều. Xin ông cho biết về quản lý của các cơ quan chức năng đối với việc xử phạt lựa chọn giới tính thai nhi như thế nào?
Tiến sĩ Dương Quốc Trọng: Chính phủ đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật cấm lựa chọn giới tính thai nhi như Pháp lệnh Dân số, Nghị định 104/2003/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số, Nghị định số 114/2006/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em… Tuyên truyền về các biện pháp sinh con theo ý muốn, thực hiện bằng công nghệ, chẩn đoán giới tính thai nhi, nạo phá thai do giới tính là vi phạm pháp luật. Việc lựa chọn giới tính trước khi sinh có thể thực hiện trước, trong và sau khi thụ thai. Người ta nói nhiều tới việc siêu âm chẩn đoán giới tính dẫn đến phá thai. Tuy nhiên, tại Việt Nam, siêu âm có phải là nguyên nhân trực tiếp duy nhất dẫn đến tăng tỷ số giới tính khi sinh không thì cần phải có nghiên cứu kỹ lưỡng và đầy đủ hơn. Theo kết quả thanh tra của Tổng cục Dân số - kế hoạch hoá gia đình, đa số các trường hợp phá thai đều dưới 12 tuần. Người Việt Nam theo các tôn giáo khác nhau nên khi phá thai (là con gái) cũng phải cân nhắc về mặt tâm lý. Siêu âm chẩn đoán giới tính thai nhi tại nước ta chỉ đúng với thai nhi 13 tuần tuổi trở lên. Sau khi chẩn đoán giới tính, phụ nữ có thể phá thai, nhưng các trường hợp phá thai vì lý do giới tính nữ không phải là nhiều.
Thời gian qua, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình phối hợp cùng thanh tra của Bộ Thông tin - Truyền thông kiểm tra hành vi phổ biến phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi trên các tài liệu, xuất bản phẩm; xử phạt các nhà xuất bản vi phạm và yêu cầu các website gỡ bỏ các thông tin liên quan đến nội dung sinh con theo ý muốn. Ngoài ra, Tổng cục cũng tổ chức thanh tra các cơ sở phá thai công lập và ngoài công lập, đóng cửa những cơ sở y tế vi phạm chẩn đoán giới tính.
Ở Việt Nam, tình trạng biết giới tính thai nhi trước khi sinh là khá phổ biến. Sẽ không sao nếu người mẹ biết giới tính mà không bỏ thai, nhưng nếu lạm dụng thì rất đáng lên án. Một khảo sát của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình cho thấy, 60% phụ nữ nông thôn và 70% phụ nữ thành thị biết giới tính con khi sinh nhưng phá thai vì lý do giới tính là bao nhiêu thì cần phải có nghiên cứu đầy đủ hơn.
Hỏi: Ông có thể nói về những hậu quả lâu dài của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh? Phải chăng người phụ nữ sẽ có vị trí cao hơn trong xã hội?
Tiến sĩ Dương Quốc Trọng: Mất cân bằng giới tính khi sinh chưa tạo nên bức xúc ở hiện tại, nhưng sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng từ thời điểm năm 2025 trở đi. Khi đó, những công dân nhỏ tuổi sinh trong giai đoạn này đến tuổi trưởng thành, kết hôn và hiện tượng mất cân bằng giới tính sẽ mang lại những hậu quả khó lường. Nếu tình trạng này tiếp diễn, dự báo sẽ có khoảng 2,3 đến 4,3 triệu nam giới, không thể lấy được vợ nếu không có giải pháp can thiệp kịp thời ngay từ bây giờ.
Thừa nam thiếu nữ cũng không cải thiện vị thế của người phụ nữ trong đời sống. Ngược lại, xã hội sẽ gia tăng tình trạng bất bình đẳng giới. Phụ nữ sẽ phải kết hôn sớm hơn. Ly hôn, tái hôn sẽ tăng. Họ cũng trở thành nạn nhân của tệ buôn bán phụ nữ, mại dâm, bạo lực gia đình, để lại những hậu quả nặng nề. Nam giới có thể phải kết hôn với người nước ngoài. Điều này cũng dẫn đến những bất ổn về mặt giống nòi.
Hỏi: Làm thế nào để giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh? Trước mắt Tổng cục có xây dựng chính sách hỗ trợ nào cho các gia đình sinh con gái?
Tiến sĩ Dương Quốc Trọng: Năm 2008, chúng tôi đã xây dựng mô hình can thiệp mất cân bằng giới tính khi sinh. Trong năm 2011 sẽ triển khai tới 43 tỉnh, thành phố. Do kinh phí của dự án lấy từ Chương trình mục tiêu quốc gia dân số - kế hoạch hoá gia đình với mức thấp nên mới chỉ dừng lại ở mức độ tuyên truyền, vận động.
Để giảm thiểu vấn đề mất cân bằng giới tính, trước hết cấn phải tuyên truyền, phổ biến cho người dân thấy rõ những nguyên nhân, hậu quả của tình trạng này. Muốn làm được điều này, rất cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, với sự tham gia của những người có uy tín trong cộng đồng. Mong muốn có con trai ở các cặp vợ chồng là đáp ứng niềm mong mỏi của ông bà nên cần tuyên truyền để ông bà quý cháu trai cũng như cháu gái. Giải pháp này không thể thành công ngay mà cần thực hiện kiên trì, bền bỉ.
Liên quan tới việc phải có con trai do vấn đề kinh tế, chúng ta cần xây dựng chính sách ưu tiên cho phụ nữ như hỗ trợ các cặp vợ chồng chỉ có con gái để họ yên tâm lúc về già. Ngay như tại Trung Quốc, người già ở nông thôn có hai con gái được trợ cấp 600 tệ mỗi tháng. Ngoài ra, cũng cần chuyển đổi cơ cấu kinh tế xã hội tại địa phương cho phù hợp.
Tiếp đó là thực hiện và sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với cuộc sống. Thí dụ như quy định về nạo phá thai. Khoảng 20 năm trước, tỷ lệ nạo phá thai cao tới mức đáng kinh ngạc khi cứ một trường hợp đẻ sống thì có từ 1 đến 1,5 ca nạo, phá thai. Với những nỗ lực của ngành dân số, số trường hợp có thai ngoài ý muốn đã giảm mạnh, tỷ lệ các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ áp dụng các biện pháp tránh thai đạt khoảng 80%. Đến năm 2010, tỷ lệ nạo phá thai chỉ còn 29 ca/100 ca đẻ sống. Phá thai không được coi là một biện pháp kế hoạch hoá gia đình nhưng hiện quy định vẫn cho phép phá thai không cần điều kiện gì. Trong thời gian tới, có lẽ cần áp dụng quy định “phá thai có điều kiện” như do bệnh lý người mẹ, của con hoặc do kế hoạch hoá gia đình… nhằm hạn chế tình trạng phá thai do giới tính.
Xin cảm ơn ông.