Tháp tùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phu nhân tham dự Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Độc lập của Malaysia, chúng tôi đã được chứng kiến một Thủ đô Kuala Lumpur tưng bừng trong ngày hội lớn của đất nước, đâu đâu cũng thấy rực rỡ sắc mầu cờ, hoa và những nụ cười rạng rỡ trên gương mặt người dân.
Cảnh vật ở Thủ đô Kuala Lumpur được tắm mát bởi những cơn mưa rào mùa hạ đều đặn những ngày gần đây dường như càng tươi sáng hơn. Chính phủ và nhân dân Malaysia đã làm hết sức mình để ngày hội 50 năm độc lập và phát triển của mình thêm phần ý nghĩa.
Đêm 30-8, không chỉ người dân Thủ đô Kuala Lumpur mà rất đông khách du lịch quốc tế có mặt tại đây hầu như không ngủ. Những dòng người, xe, không ngớt đổ về Quảng trường Merdeka (Độc lập) và Tòa tháp đôi Petronas để chờ đón màn bắn pháo hoa mừng Ngày Độc lập vào đúng 0 giờ ngày 31-8.
Từ một nước nghèo, Malaysia đã nỗ lực phấn đấu phát triển theo đường lối độc lập, trở thành một đất nước phồn vinh. Năm kỷ nguyên độc lập và phát triển là: Kỷ nguyên Độc lập; Kỷ nguyên phát triển; Kỷ nguyên thống nhất; Kỷ nguyên hiện đại hóa và Kỷ nguyên tiến bộ, đã được các nhà tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Độc lập của Malaysia khéo léo dàn dựng, tái hiện trong các tiết mục nghệ thuật, diễu binh, diễu hành quần chúng tại Quảng trường Độc lập sáng 31-8 và Lễ kỷ niệm lần thứ 50 Ngày Độc lập tổ chức tại Sân vận động Độc lập, với sự tham gia của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Phu nhân và hầu hết nguyên thủ các quốc gia khác trong Hiệp hội ASEAN, và khách quốc tế.
Khi giành được độc lập năm 1957, Malaysia khi đó còn là một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp nhân dân là khá lớn. Nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vào Anh, nguồn thu chủ yếu là từ xuất khẩu cao-su tự nhiên và thiếc.
Từ năm 1970, Chính phủ Malaysia thực hiện chính sách kinh tế mới với mục tiêu xóa nghèo đói và cơ cấu lại nền kinh tế. Không mơ hồ về phát triển, Malaysia luôn có tư tưởng thực tế, do đó đã hoạch định và thực thi nhiều chiến lược đáp ứng nhu cầu của thời đại. Đầu năm 1980, Malaysia tập trung công nghiệp hoá đất nước cũng như thu hút đầu tư nước ngoài. Chính sách này đã dẫn đến việc giải phóng sức sản xuất và nhờ đó, Malaysia đã được hưởng lợi từ đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Từ năm 1993, Chính phủ đưa ra chính sách tự do hóa kinh tế, nới lỏng luật lệ và cải tiến chính sách về đầu tư, khuyến khích tư nhân tham gia phát triển kinh tế. Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, Malaysia chuyển sang nền kinh tế, trong đó khu vực tư nhân nắm vai trò quan trọng. Chính vì vậy, cả khu vực công và khu vực tư nhân đều đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường phát triển nền kinh tế Malaysia.
Kế hoạch 5 năm lần thứ 7 (1996-2000) và lần thứ 8 (2001-2005) Malaysia đã được thực hiện trong khuôn khổ kế hoạch dài hạn 30 năm (1990-2020) gọi là “chương trình phát triển mới” hay “Tầm nhìn 2020” với mục tiêu đưa Malaysia trở thành một nước phát triển vào năm 2020. Hiện nay, Malaysia đã đứng thứ 23 trong các nước châu Á về kinh tế, vượt qua cả Indonesia và Thái-lan, thu nhập bình quân đầu người của Malaysia là 4.020 USD/năm.
Nhà nước Malaysia là nhà nước quân chủ lập hiến. Quốc vương là nguyên thủ quốc gia, song chỉ có tính chất tượng trưng, quyền lực thực chất thuộc về Thủ tướng (lãnh tụ phe đa số tại Hạ viện). Mặc dù có nhiều đảng phái, nhưng từ khi Malaysia giành được độc lập đến nay, đảng dân tộc Mã-lai thống nhất (UMNO) cùng Mặt trận Quốc gia cầm quyền gồm 14 đảng của mình liên tục cầm quyền. Nền tảng ổn định chính trị được xây dựng trên cơ sở chia sẻ quyền lực thực sự và hoầ hợp, luôn có tư tưởng thực tế, chú trọng xây dựng hạ tầng cơ sở và phát triển nguồn lực con người đã mang lại thành công cho Malaysia và sẽ tiếp tục là yếu tố then chốt cho thành công trong tương lai.
Theo Thủ tướng Badawi, mặc dù đã vượt qua thách thức và trở ngại, nhưng so với những nước đang phát triển khác, Malaysia vẫn phải đối mặt những vấn đề cơ bản như: nghèo đói, dịch bệnh cũng như chiến tranh và xung đột. Ngày nay, Malaysia vẫn phải tiếp tục hướng tới những thành tựu lớn hơn. Kinh nghiệm của Malaysia cho thấy cần phải tăng cường phối hợp hành động với khu vực tư nhân để đẩy mạnh phát triển đất nước thông qua khái niệm đối tác thông minh và liên kết của Malaysia.
Từ cuối năm 1991, với những chuyển biến chung của cục diện quốc tế và khu vực, kết hợp việc nước ta thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, trong chuyến thăm chính thức Malaysia của Thủ tướng Phan Văn Khải, tháng 4-2004, hai nước đã ký “Tuyên bố chung về Khuôn khổ hợp tác toàn diện trong thế kỷ 21”, quan hệ Việt Nam – Malaysia chuyển sang một giai đoạn phát triển mới về chất và ngày càng được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực cả song phương cũng như trong khuôn khổ ASEAN. Quan hệ kinh tế giữa hai nước cũng không ngừng phát triển và ngày càng được mở rộng trên nhiều lĩnh vực.
Đầu tư trực tiếp của Malaysia vào Việt Nam từ 50 triệu USD năm 1990 đã tăng lên 1,73 tỷ USD tính đến tháng 6-2007, đứng thứ ba trong các nước ASEAN và thứ 10 trong tổng số 76 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Về thương mại, kim ngạch buôn bán giữa hai nước tăng trung bình 20%/năm trong vòng 5 năm gần đây. Kim ngạch hai chiều năm 2006 đã đạt 2,7 tỷ USD. Hợp tác lao động là một lĩnh vực hợp tác mới và nhiều tiềm năng giữa hai nước. Từ tháng 4-2002 đến nay, Việt Nam đã đưa hơn 140 nghìn lượt lao động sang làm việc tại Malaysia, riêng năm 2006 đã đưa 39 nghìn lao động sang làm việc tại Malaysia. Hiện nay có khoảng 110 nghìn lao động Việt Nam đang làm việc tại Malaysia.
Chuyến thăm Malaysia tham dự Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Độc lập của Malaysia cũng là chuyến thăm đầu tiên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kể từ khi nhậm chức. Với ý nghĩa đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã dành nhiều thời gian cho các cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo và giới doanh nghiệp Malaysia. Những hoạt động đó đã mang lại kết quả thiết thực, góp phần tăng cường hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước trong giai đoạn mới.