Cô gái ngồi trước màn hình vi tính là Triệu Thị Nguyệt, dân tộc Dao, ở thôn Khe Giấy, xã Lương Mông, huyện Ba Chẽ. Mắt sáng, miệng cười tươi, da bánh mật, cô thật đẹp khi diện bộ quần, áo của con gái Dao. Sinh ra ở thôn Khe Giấy, học cấp 1 tại thôn, rồi học nội trú trường huyện, tốt nghiệp THPT, lên Hà Nội học chuyên về công nghệ thông tin. Ra trường, về quê làm việc tại UBND xã.
- Lúc rảnh chúng cháu đọc báo trên mạng - Triệu Thị Nguyệt nói. Báo Nhân Dân, báo Quảng Ninh, báo Dân trí... Nhờ vậy chúng cháu biết tin sắp tới cả nước sẽ bầu ra 500 đại biểu Quốc hội, cả nước đã có hơn 80 người tự ra ứng cử. Quảng Ninh có ba đơn vị bầu cử bầu bảy đại biểu, trong đó có đại biểu là người dân tộc thiểu số. Chúng cháu đang bàn xem nên lựa chọn ai, giới thiệu ai ra ứng cử.
Vừa nói, Nguyệt vừa nhắp chuột lướt qua đầu đề các bài báo. Một người đứng phía sau, chỉ vào Nguyệt nói nhỏ: Cô ấy cũng là một trong những người được lựa chọn.
Internet ở thành phố hay đồng bằng là chuyện bình thường, nhưng ở xã Lương Mông heo hút này đã thành một sự kiện. Ông Chủ tịch UBND xã Khúc Thanh Nghị tổng kết: Mấy năm gần đây, Lương Mông có ba sự kiện lớn: Ðường thông từ huyện đến xã; Ðiện lưới quốc gia đến từng nhà; Internet về xã, điện thoại đến nhà.
Cả ba sự kiện này, dân xã đều tổ chức ăn mừng. Ðặc biệt, cuối năm 2006, nhờ nỗ lực lớn của ngành bưu điện, dự án cáp quang đã xong. Thanh niên, học sinh trong xã vui sướng, hò reo: Núi, rừng bây giờ kém gì thành phố!
Cùng lên mạng với Nguyệt là Nông Ái Vân, người Dao, ở thôn Ðồng Giảng, làm nhân viên bưu điện văn hóa xã. Vân lém lỉnh hỏi mọi người: Có xem ảnh thiếu nữ không? Lương Mông chúng cháu nhiều con gái đẹp lắm!
Vân cho biết: Ngày nghỉ, ngày chủ nhật, thanh niên, học sinh đến bưu điện văn hóa xã này rất đông.
- Họ đến để làm gì?
- Ðể "chát" với bạn bè, chơi "ghêm". Rất ít người gọi điện thoại.
- Sao lại ít gọi?
- Quá nửa số hộ dân trong xã đã có máy điện thoại. Gọi điện tại nhà thỏa thích còn phải đi đâu? Chả tin các bác cứ đi hỏi mà xem!
Nghe cô nhân viên nói thế, Giám đốc bưu điện Bùi Ðình Khoan bảo, chẳng cần phải đi, bưu điện biết chính xác từng số điện thoại của từng nhà. 168/268 hộ dân của toàn xã lắp máy điện thoại. Nếu tính theo số máy trên 100 dân thì tỷ lệ chẳng kém gì các thành phố lớn! Lương Mông đã gợi ý cho ngành bưu điện một cách tính mới, máy/trên hộ dân, và có thể năm 2010, mỗi hộ dân ở xã miền núi này có một máy điện thoại.
Bí thư Ðảng ủy xã Nguyễn Thái Phong, 39 tuổi, da đen, miệng rộng, tiếng nói như lệnh vỡ. Rời nhà lên mạn ngược kiếm ăn từ nhỏ. Lớn lên đi học, dạy học, làm hiệu trưởng 14 năm, giờ làm bí thư một đảng bộ có 91 đảng viên, hầu hết là người Dao, người Tày. Ngồi "lướt oép" tại phòng làm việc, tay thô ráp nhấn chuột còn vụng về, chậm chạp, thua xa với những bàn tay mềm mại, thon thả của đám con trai, con gái trong làng. Dường như cảm nhận được sự so sánh ngầm của chúng tôi, Bí thư Ðảng ủy xòe hai bàn tay đầy những nốt chai.
- Một mình tôi làm cỏ cho ba héc-ta quế, nửa héc-ta cây ăn quả. Quế thì tốt khỏi phải nói, cây "truyền đời" của đất này. Cây ăn quả phải kể đến thanh long, đất Lương Mông hợp với loại cây này. Một cây thanh long có đến 100 quả, có đốt 60 quả. Từ tháng tư đến tháng bảy, thanh long ra năm lần, quả ngọt, thơm, trong mát, chẳng nơi nào sánh kịp.
Giọng nhỏ đi, nói chậm lại, Bí thư Ðảng ủy bảo đang bàn với dân tính chuyện đưa "cây, con" riêng có của Lương Mông về bán ở thành phố Hạ Long.
- Là cây, con gì?
- Cây bao, một loại cây vừa là thuốc kháng sinh, chữa được các bệnh đường ruột, bệnh tiểu đường, giải được rượu, ăn sống, nấu canh đều rất tốt.
Bí thư Ðảng ủy mở cửa sổ, đưa tay chỉ ra vườn. Cây bao mới mọc, giống như cây diếp dại, cấu ngọn, bao mọc thành cây khẳng khiu như cây dâu đẹn. Hoa bao vàng, trắng tựa như hoa cải, phát tán đến đâu, bao mọc đến đó, tốt như rừng. Ăn sống, rau bao ngon chẳng kém gì xà lách, nhưng giá trị là ở chỗ ăn vào chữa được nhiều bệnh.
Nghe Bí thư Ðảng ủy tính chuyện bán rau như vậy, anh cán bộ trạm viễn thông Tiên Yên xui lập trang "oép" giới thiệu về cây bao Lương Mông.
- Có thể lắm, xã bây giờ thừa sức để làm việc này!
Rời Văn phòng Ðảng ủy, chúng tôi đến nhà cụ Vi Văn Bằng, người Tày, năm nay cụ Bằng đã 78 tuổi. Cụ Bằng mới xây nhà, hai tầng, nền lát gạch hoa, tường phía trái, ngay cửa ra vào treo kín các loại bằng khen, giấy khen. Tiếp chúng tôi có cả cụ bà, hai cụ bằng tuổi nhau, cả hai cùng mặc áo ấm, nhưng đều để chân trần, đi đất.
- Lạnh thế sao các cụ không đi giày, tất vào?
- Chúng tôi vừa trồng cây thuốc ngoài ruộng về. Ở Lương Mông, dân ít bệnh là nhờ cây lá của rừng. Người ốm, cảm cúm hay viêm sốt, ngậm, nhai, uống vài vị thuốc lấy từ rừng là khỏi.
- Xã nghèo, dân khỏe mạnh, không đói, thế đã là sướng chưa, thưa cụ?
Cụ Bằng nhổm khỏi ghế, vung tay trả lời ngay: Sướng hơn tiên rồi! Cụ nói tiếp: Tôi đã nói với ông Lê Ðình Trưởng, đại biểu Quốc hội khóa XI, khi tiếp xúc với cử tri là, với người dân Lương Mông, nói một trời một vực là chưa đủ. Bọn trẻ đã reo lên "trên cả tuyệt vời" khi Internet về làng thì chúng tôi cũng reo lên "trên cả tuyệt vời" khi điện, rồi điện thoại đến nhà. Cụ Bằng nói: "Tết Ðinh Hợi vừa rồi, ngồi ở nhà cách Hà Nội 500 km, tôi đã gọi điện chúc Tết ông Nghiêm Ðình Thăng, nhà số 28 phố Lạc Long Quân, đường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Ông Thăng cùng là Thiếu sinh quân với tôi thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Lần đầu, ngồi nhà nói chuyện qua điện thoại với người đồng đội đã vào sinh, ra tử với mình, tôi thấy hồi hộp, bâng khuâng, tay cầm máy cứ run lên". Nói xong, cụ Bằng cười lớn, nhắc lại câu "trên cả tuyệt vời", nụ cười thật mãn nguyện. Trong lúc cụ ông vui như thế, thì cụ bà lại chậm rãi nhắc lại những chìm nổi ở đất Lương Mông này. "Hồi đó đâu có đường mà đi, vợ chồng phải vạch cỏ chui dưới tán cây rừng; đói quá ăn củ nâu, củ cóc, người phù thũng, da vàng hơn nghệ".
Ai đó nhận xét, người già hay nói chuyện ngày xưa. Nhưng trong nhà này thì khác, cụ ông nói chuyện đời nay, đổi mới đã làm nên "trên cả tuyệt vời". Cụ bà lại nhỏ nhẹ kể chuyện ngày xưa. Nghe kỹ mới hiểu, mới thấy, nói chuyện ngày xưa là để trân trọng quý giá những đổi mới bây giờ.
Bếp nhà cụ Bằng nằm sát ngay sau nhà. Giống như nhiều nhà khác, ở Lương Mông, bếp dựng tuềnh toàng bằng tre, nứa đan ghép lại. Trong bếp, cô con dâu út đang nấu cơm, thằng cháu nội nép sát nách mẹ. Góc bếp có đến chục gói muối, bồ hóng đã phủ gần kín bao đựng. Mấy quả đu đủ chín đặt trên mặt sàng. Ổ trứng gà ở sát góc. Dành cơm nguội phơi khô đặt ngay ngoài cửa. "Cơm ăn không hết phơi để nuôi lợn" - cô con dâu nói.
Ai nói, vào bếp sẽ thấy được một phần đời sống của dân. Vào bếp nhà cụ Bằng và nhiều nhà dân ở Lương Mông, chúng tôi có cùng chung một nhận xét với đồng chí Bí thư Huyện ủy: Nhà đã ấm, dân đã no, nụ cười đã rạng rỡ. Lương Mông bây giờ là thế.
Trong ký ức của nhiều người ở Quảng Ninh, Lương Mông vẫn là một xã miền núi, đói rét, xa lắc xa lơ. Nhưng đặt chân đến mới biết, Lương Mông giờ đã khác xa lắm rồi. Ðổi mới chẳng những tạo dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật mà còn đào tạo được một lớp người mới, với những cách nghĩ, cách nhìn mới ở cả những nơi vẫn được xem là rừng sâu, núi thẳm. Chúng tôi đã gặp họ và ghi lại những chuyện nhỏ cụ thể trong dịp gặp gỡ này.