Ngay từ năm 1948, khi nói về tư cách người công an cách mạng, Bác Hồ viết: "Trên báo cần thường xuyên làm cho anh chị em công an nhận rõ công an của ta là công an nhân dân, vì nhân dân mà phục vụ và dựa vào nhân dân mà làm việc. Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai, mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong".
Ðối với lực lượng CAND cũng như công tác giữ gìn an ninh trật tự, Người dạy rất nhiều điều. Nội dung những lời dạy của Người đều chứa đựng những giá trị to lớn đòi hỏi lực lượng CAND nói chung, mỗi cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng CSND nói riêng phải thấm nhuần sâu sắc để hiểu đầy đủ và thực hiện cho đúng. Ðể phát huy sức mạnh của toàn dân, Bộ Công an đã phát động và duy trì phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Phong trào này được phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, gắn liền với cuộc đấu tranh chống tội phạm của lực lượng CAND. Ðặc biệt là từ khi thực hiện Nghị quyết 09/CP và Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, đến nay đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia và TTATXH. Nhiều địa phương đã đưa nội dung công tác này thành một trong những tiêu chuẩn để xây dựng "gia đình hòa thuận, thôn xóm bình yên" hoặc "khu dân cư tiên tiến, không có tội phạm và tệ nạn xã hội". Ðồng thời, phát động phong trào tự quản, tự bảo vệ, thu hút đông đảo nhân dân tham gia như: dòng họ tự quản; đường phố văn minh - an toàn; khu dân cư tự quản... Nhiều nơi đã đề ra quy ước về ANTT trong các cơ quan, doanh nghiệp, trường học, các đơn vị lực lượng vũ trang, tổ dân phố, cụm dân cư.
MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên, các bộ, ngành chức năng đã phối hợp Bộ Công an ký kết các thông tư, nghị quyết liên tịch, chương trình phối hợp hành động phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp Bộ Công an đã tổ chức hàng chục nghìn "hòm thư tố giác tội phạm", "đường dây nóng"... đến tận các tổ dân phố, cụm dân cư. Qua các hình thức vận động, năm năm qua, nhân dân đã cung cấp cho công an hơn ba triệu tin liên quan tội phạm, trong đó 60% số tin có giá trị giúp công an bắt giữ, xử lý và ngăn chặn được nhiều vụ phạm tội. Nhân dân tham gia hòa giải các mâu thuẫn xảy ra ở cơ sở, cảm hóa giáo dục, giúp đỡ các đối tượng phạm tội sớm hòa nhập cộng đồng. Năm năm qua, MTTQ và các tổ chức thành viên đã cảm hóa, giáo dục hơn 2,5 triệu lượt đối tượng vi phạm pháp luật, giúp họ tái hòa nhập cộng đồng. Hiện nay, cả nước có 35 loại hình tổ chức quần chúng tham gia phòng, chống tội phạm và gần 8 nghìn ban bảo vệ dân phố ở các địa bàn cơ sở. Ðó là sức mạnh, là chỗ dựa vững chắc cho lực lượng CSND hoạt động có chất lượng và hiệu quả cao hơn.
Phát động phong trào quần chúng phải đi đôi với tiến công, trấn áp mạnh mẽ các loại tội phạm. Bởi vậy, lực lượng CSND luôn tập trung đấu tranh quyết liệt với các loại tội phạm, nhất là loại tội phạm hình sự nguy hiểm: cướp của, giết người, cướp giật, chống người thi hành công vụ, tội phạm hoạt động theo kiểu "xã hội đen". Kết quả đó đã làm cho người ngay không còn sợ kẻ gian, nhân dân tin tưởng giúp đỡ công an, mạnh dạn tố giác tội phạm. Ðấu tranh chống tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại, lực lượng CSND đã chú trọng các lĩnh vực trọng điểm như đầu tư xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng, giao thông vận tải, bưu điện, xăng dầu, quản lý sử dụng đất... Chỉ tính sáu tháng đầu năm 2005, lực lượng CSND đã phát hiện gần 4.000 vụ vi phạm trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, thu giữ hàng hóa trị giá hơn 50 tỷ đồng. Ðấu tranh triệt phá nhiều đường dây buôn bán phụ nữ trẻ em, môi giới mại dâm, tổ chức sử dụng ma túy tổng hợp (thuốc lắc), ăn chơi thác loạn, bắt giữ hàng nghìn vụ phạm tội về ma túy, triệt phá hơn hai nghìn băng, nhóm lưu manh chuyên nghiệp, có nhiều băng nhóm phạm tội nguy hiểm.
Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm diễn ra gay gắt, quyết liệt, nhiều đồng chí đã anh dũng hy sinh để bảo vệ bình yên cuộc sống nhân dân. 5 năm qua, có 16 CBCS cảnh sát, 18 công an xã, bảo vệ dân phố, bảo vệ cơ quan hy sinh và hơn 50 công an xã, bảo vệ dân phố bị thương trong tiến công truy bắt tội phạm. Tính trong thời kỳ đổi mới, có 125 liệt sĩ và hơn 600 cán bộ, chiến sĩ CSND bị thương trong đấu tranh chống tội phạm, đã cống hiến cả xương máu, hy sinh thân mình vì sự nghiệp bảo vệ ANTT của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Lực lượng CSND vinh dự có 74 tập thể, 29 cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.
Ðó là những kết quả, những cống hiến hy sinh và những chiến công to lớn, nhưng với trách nhiệm của mình, mỗi cán bộ, chiến sĩ CSND cần kiểm điểm xem nhân dân đã cộng tác, giúp đỡ ta nhiều chưa, giúp đỡ ta hoàn toàn chưa? Trả lời một cách nghiêm túc là chưa. Cho nên tội phạm vẫn còn nơi ẩn náu, chờ thời cơ là hoạt động phạm tội; vẫn còn tệ nạn xã hội, lưu mạnh côn đồ... Bởi thế nên trong quần chúng đây đó vẫn còn tình trạng người ngay sợ kẻ gian, người tố giác trở thành nạn nhân. Nguyên nhân của tình hình nói trên có nhiều, song có một nguyên nhân là trong lực lượng CSND vẫn còn một số ít cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất đạo đức, lối sống, vi phạm pháp luật, có trường hợp nghiêm trọng, sách nhiễu, cửa quyền với dân, không học hỏi, không dựa vào dân để làm việc, không vì mục tiêu phục vụ nhân dân, thậm chí có những hành động và lời nói gây bất bình trong nhân dân, làm giảm sút lòng tin và mối quan hệ mật thiết giữa công an với nhân dân.
Vấn đề đặt ra là phải tiếp tục xây dựng hình ảnh người chiến sĩ cảnh sát là con em yêu quý của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Trước hết phải làm cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững quan điểm, đường lối quần chúng của Ðảng. Bác Hồ đã dạy: "Làm công an không phải là làm quan cách mạng, làm công an là để giữ trật tự an ninh cho nhân dân" (2). Người chiến sĩ công an phải là bạn của dân, phải học hỏi, lắng nghe ý kiến và tiếp thu phê bình của nhân dân để tiến bộ, phải bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, kính trọng, lễ phép với nhân dân, phải chống bệnh quan liêu, mệnh lệnh, hách dịch, cậy quyền, đặc biệt là thái độ coi thường dân, không hiểu biết và yêu thương nhân dân. Thực tiễn đã chứng minh:
"Dễ trăm lần không dân cũng chịu.
Khó vạn lần dân liệu cũng xong".
Người chiến sĩ CSND phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chỉnh đốn tư thế, tác phong, thực thi nhiệm vụ theo quy định, không được tùy tiện hoặc bao che cho các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật.
Phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lực lượng CAND. Rà soát bãi bỏ những quy định, thủ tục không còn phù hợp, gây phiền hà cho nhân dân. Cải tiến, sửa đổi lề lối làm việc, tạo mọi điều kiện để nhân dân tham gia nhiều hơn, trực tiếp hơn vào công tác giữ gìn ANTT và góp ý xây dựng lực lượng CSND. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh những cán bộ, chiến sĩ có hành vi xâm phạm lợi ích chính đáng của nhân dân, giải quyết kịp thời các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, không để kéo dài, đùn đẩy, làm giảm lòng tin của nhân dân.
Chính phủ đã quyết định lấy ngày 19-8 hằng năm là Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Ðây là điều kiện rất cơ bản, thuận lợi để phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân vào sự nghiệp bảo vệ an ninh trật tự. Do vậy, cần cải tiến, đổi mới nội dung, phương pháp vận động quần chúng; có cơ chế chính sách phù hợp để động viên đông đảo nhân dân tham gia phòng, chống tội phạm; thực hiện "mọi việc dân biết, dân bàn, việc lớn việc nhỏ dân làm là xong". Ðối với lực lượng CSND, trước mắt cần củng cố lực lượng nòng cốt ở cơ sở, nơi hằng ngày tiếp xúc với nhân dân, như công an huyện phụ trách xã, cảnh sát khu vực, công an xã, bảo vệ dân phố đủ mạnh để thật sự là nơi tham mưu, đề xuất giúp lãnh đạo công an các cấp chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc thiết thực và hiệu quả, cũng là thực hiện câu nói của Bác: "Tổ chức được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được, CAND phải luôn luôn giúp đỡ, tổ chức giáo dục nhân dân, làm cho mọi người dân là người giúp việc cho mình, làm mạng lưới CAND mới có kết quả" (3).
Thiếu tướng TRỊNH VĂN KIỆM
(Tổng cục Cảnh sát)
------------
(1), (2): Huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại lớp trung cấp khóa 2-1951.
(3): Tuyển tập Hồ Chí Minh, tập 2, NXB Sự thật, Hà Nội 1980, trang 96.