Đạo diễn đã chia sẻ cùng báo giới những khó khăn trong quá trình thực hiện bộ phim, cũng như cách mà ông cùng đoàn làm phim vượt qua những khó khăn đó, để xây dựng tác phẩm điện ảnh đầu tiên về cụ Nguyễn Du, Đại thi hào của dân tộc.
- Khi làm “Long thành cầm giả ca”, liệu đoàn làm phim có chịu sức ép? Đoàn đã gặp phải những khó khăn nào trong quá trình thực hiện?
- Phải nói thật là khi bắt đầu cầm kịch bản trong tay, ra bắc chọn cảnh, chúng tôi cũng hoang mang lắm, không biết phải làm thế nào. Khó có thể hình dung ra được cảnh vật của một Thăng Long cách đây hàng trăm năm, thành quách, nhà cửa, quan lại từ Tể tướng cho tới Chánh sứ… như thế nào khi tư liệu trong tay không còn nhiều. Đối với tôi, việc nhận làm phim là một thách thức lớn, nhưng cũng là một may mắn. Tôi gốc bắc, nhưng đã vào nam được hơn 30 năm rồi.
Chúng tôi đã gặp khó khăn rất nhiều về đạo cụ. Chỗ nào cũng là nhà lầu bê tông, cột ăng ten, dây điện. Có khi quay xong một cảnh rồi phải đi tới hơn 30km để quay được cảnh tiếp theo.
Tuy nhiên chúng tôi đã vượt qua được tương đối. Ít nhất là không có một chi tiết nào thuộc về thời hiện đại bị “lọt” vào máy quay.
Chúng tôi cũng biết phim của mình còn nhiều khiếm khuyết, nhưng anh em trong đoàn thực hiện bộ phim với một tâm thế là tạ ơn mảnh đất Thăng Long. Chúng tôi đã xây dựng một bộ phim khai thác sâu về văn hóa Thăng Long, lấy lịch sử làm phông nền cho câu chuyện của hai nhân vật chính là nàng Cầm và Tố Như, sau những lần gặp gỡ đã làm nảy sinh những tứ thơ, sau này trở thành “Bài ca người gảy đàn đất Thăng Long”…
- Vậy còn khâu chọn diễn viên, ông có gặp khó khăn nhiều không?
- Phải nói là vô cùng khó. Đây là Nguyễn Du, một hình tượng của dân tộc. Một triệu người thì có một triệu hình dung khác nhau về cụ. Phải tìm được người toát lên thần thái của cụ, trước hết là dáng dấp nho nhã, thư sinh, thanh tao, đạo mạo và có chữ… Khi tôi chọn Ngọc Ngoan cho vai Tố Như, chính anh ấy cũng kêu rằng sao phải chọn kỹ thế, phải xem cả tay diễn viên nam chính. Tôi đã phải giải thích sở dĩ làm vậy vì người thể hiện vai Nguyễn Du phải toát lên sự nho nhã từ chính đôi bàn tay, tay phải đẹp, thanh mảnh.
Còn vai cô Cầm, khi chúng tôi chọn Nhật Kim Anh cũng có nhiều ý kiến, lo ngại rằng cô ấy không phù hợp, nhưng càng về sau này, diễn xuất của cô ấy đã chinh phục mọi người. Có thể nói rằng, giữa Nhật Kim Anh và cô Cầm có những nét tương đồng. Nhân vật Cầm từ bé đã rời xa vòng tay mẹ lên kinh thành học đàn, học hát. Nhật Kim Anh cũng vậy, cô quê ở Thanh Hóa nhưng vào TP Hồ Chí Minh từ năm 10 tuổi, cũng lặn lội đi học hát, thử sức và lập nghiệp, cũng trải qua những nỗi gian truân, thậm chí là cay đắng trong con đường tạo dựng sự nghiệp. Là một ca sĩ, nên Nhật Kim Anh có nhiều đồng cảm với số phận một con hát trong phim.
Để diễn tốt vai cô Cầm, Nhật Kim Anh đã phải học đàn, học hát ca trù để hiểu thêm về loại hình âm nhạc dân gian này. Trong phim, có những đoạn cô Cầm chỉ khóc một mắt, và Nhật Kim Anh cũng phải tập để nước mắt chỉ chảy từ một bên.
Các diễn viên phụ, chúng tôi cũng lựa chọn rất kỹ lưỡng, bởi mặc dù có những vai chỉ xuất hiện rất ngắn, như ông lái đò, tôi cũng phải chọn nghệ sĩ Trần Hạnh. Những vai quan lại, tôi đều chọn các nghệ sĩ như Trần Lực, Đỗ Kỷ, Bùi Bài Bình… họ đều làm toát lên được vẻ nho nhã nhưng cũng rất uy nghi, đĩnh đạc.
Về phần giọng nói, trước đây cũng có những ý kiến về giọng nói của nhân vật, cho rằng phim hoàn toàn lồng tiếng. Tôi xin được trả lời rằng đây là phim thu tiếng tại hiện trường, một số diễn viên được giữ giọng trực tiếp, nhưng có một số diễn viên phải lồng giọng. Sở dĩ có chuyện như vậy vì diễn viên đến từ nhiều địa phương, bắc trung nam đủ cả, mà câu chuyện lại xảy ra ở đất Thăng Long, về người Thăng Long, tôi không thể để giọng địa phương lẫn lộn trong phim được. Thêm vào đó, tôi cũng muốn chọn những giọng thật sang, thật chuẩn cho các nhân vật trong phim, đặc biệt là quan lại. Không thể để một ông Tể tướng nói ngọng, chẳng hạn thế. Tôi cho rằng thu tiếng trực tiếp hay lồng giọng là cách làm của đạo diễn, dù thế nào cũng để hướng tới mục đích làm toát lên cái hồn của câu chuyện.
Đạo diễn Đào Bá Sơn giới thiệu về bộ phim.
- Đạo diễn có thấy hài lòng với tác phẩm của mình không? Có điều gì hối tiếc sau khi làm phim không?
- “Long thành cầm giả ca” là đứa con tinh thần của tôi, khi sinh con ra thì xấu đẹp gì cũng là con mình, khen cũng dở mà chê lại càng dở. Đương nhiên là khi làm xong, cũng có đoạn mình hài lòng, có đoạn chưa, nhưng giờ thì như ván đã đóng thuyền. Chỉ có điều là, nếu có ý kiến chưa hài lòng với diễn xuất của các diễn viên trong phim, thì đó là lỗi của đạo diễn. Còn nếu cho làm lại phim thì khó lắm, bởi nếu thế thì mình sẽ làm lại một bộ phim khác mất rồi.
- Bộ phim có tông màu nâu, phải chăng đạo diễn muốn gửi gắm điều gì đó?
- Chúng tôi muốn bộ phim hết sức thuần Việt. Bối cảnh phim được quay ở phủ Thành Chương và Thiên đường Bảo Sơn. Tôi sử dụng một tông màu nâu làm chủ đạo cho bộ phim. Màu nâu gợi nhớ đến đất, đến văn minh lúa nước và đến quê hương trong lòng người xa xứ.
Khi thực hiện bối cảnh, họa sĩ thiết kế đã hết sức cố gắng tạo dựng sao cho thật thuần Việt, bởi những người làm phim chúng tôi sợ nhất là bị chê “giống cảnh của sân khấu cải lương”. Tất cả đều phải dựng rất kỹ lưỡng, không để lọt đoạn dây điện nào vào ống kính.
- Mở đầu và kết phim đều sử dụng hình ảnh cái giếng cổ có hình cây đàn nguyệt. Đó là giếng thật ở ngoài hay do đoàn làm phim dựng nên? Và do tìm được cái giếng thì mới có kết phim hay vì kết phim mà phải tìm cái giếng như vậy?
- Thực ra khi làm phim, có những bối cảnh khiến mình phải thay đổi. Thấy cái giếng giống cây đàn nguyệt, thì mình bảo nó giống. Và cái giếng đó chúng tôi tìm được ở Ninh Bình, sau một chặng đường dài đi tìm những cái giếng khác ở Bắc Giang, Sơn Tây… Chúng tôi đã rất ngạc nhiên khi thấy cái giếng cổ bằng đá, không hề có bờ như những cái giếng thông thường khác. Chúng tôi quay hoàn toàn tự nhiên, không can thiệp gì. Ban đầu anh em định bàn nhau làm một cái gờ lên, nhưng sau một đêm nghĩ lại, mọi người đều thấy không việc gì phải thay đổi, nếu đó là đặc trưng của vùng đất này.
- Những khúc nhạc dường như cũng đóng vai trò quan trọng trong phim, đặc biệt là khúc Cung phụng (khúc hát dâng vua)?
- Khúc Cung phụng chỉ là cái tên, chứ thực ra đã ai được nghe bao giờ. Diễn đạt tiếng đàn theo đúng lời thơ trong “Long thành cầm giả ca” vô cùng khó: Cụ Nguyễn Du tả tiếng đàn của cô Cầm trong như tiếng hạc, buồn như Trang Tích ngâm thơ Việt (Trang Tích là người Việt bị mất nước, giấu nỗi đau trong lòng, chỉ khi ốm mới rên lên hai tiếng “Mẹ ơi” bằng tiếng Việt, vì vậy bị nghi ngờ là có mưu đồ làm phản). Khi tôi nói điều này với người làm nhạc phim là nhạc sĩ Quốc Trung, anh Trung đã than rằng, thế thì em chịu thôi, vì làm sao mà tạo ra được nổi tiếng đàn trong như tiếng hạc, đã ai nghe được tiếng hạc bao giờ, thậm chí từ thủa nhỏ ông bà, cha mẹ ta cũng chưa bao giờ nghe. Về sau chúng tôi phát hiện ra một chân lý là cụ yêu cô ấy. Cô ấy có thể là một danh cầm giỏi, tài hoa, nhưng khi có tình yêu, có cảm xúc, cụ Nguyễn Du nghe tiếng đàn, giọng hát của cô ấy trở nên tuyệt vời, vượt lên trên tất cả mọi thứ.
- Xin cảm ơn ông.