Nhìn lại năm 2017

Linh hoạt điều phối các công cụ chính sách tiền tệ

Bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước năm 2017 được đánh giá có nhiều biến động phức tạp, tác động mạnh mẽ tới các chính sách điều hành kinh tế của đất nước nói chung và chính sách tiền tệ (CSTT) nói riêng. Tuy nhiên, nhờ cách điều phối các công cụ điều hành đồng bộ và khá nhịp nhàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), năm 2017, CSTT đã đạt được một số thành công nhất định, góp phần quan trọng vào kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Khách hàng làm thủ tục giao dịch tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Quảng Ninh. Ảnh: THANH HẰNG
Khách hàng làm thủ tục giao dịch tại Ngân hàng TMCP Công thương chi nhánh Quảng Ninh. Ảnh: THANH HẰNG

Chủ động định hướng thị trường

Năm 2017, kinh tế thế giới tiếp tục phục hồi tăng trưởng. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa tiền tệ biến động với việc giá dầu tăng mạnh và đồng USD tăng giá trở lại. Sự phục hồi kinh tế khiến các nước phát triển có xu hướng thận trọng và chặt chẽ hơn trong điều hành CSTT, theo đó Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã tăng lãi suất ba lần trong năm, Ngân hàng T.Ư Ca-na-đa tăng lãi suất lần đầu tiên trong vòng bảy năm, Ngân hàng T.Ư châu Âu thông báo thu hẹp quy mô mua tài sản từ đầu năm 2018,... Ở trong nước, kinh tế tăng trưởng khả quan, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được kiểm soát thấp hơn mục tiêu 4%, lạm phát cơ bản ổn định.

Trong bối cảnh diễn biến kinh tế vĩ mô như vậy, NHNN đã điều hành các công cụ CSTT một cách nhịp nhàng, kiểm soát được các chỉ tiêu tiền tệ phù hợp mục tiêu điều hành. Ngay từ đầu năm, NHNN kiên định điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu Quốc hội đề ra; ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, bảo đảm thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD), ổn định thị trường tiền tệ; định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16-18%; tín dụng tăng trưởng khoảng 18%. Còn vài ngày nữa là kết thúc năm, nhìn lại các mục tiêu đề ra đã cơ bản hoàn thành. Các giải pháp điều tiết cung tiền hợp lý đã giúp kiểm soát lạm phát cơ bản ổn định, hỗ trợ cho việc điều chỉnh giá các mặt hàng Nhà nước quản lý không tác động lớn đến lạm phát CPI mục tiêu. Thanh khoản của hệ thống TCTD cũng được bảo đảm, dư thừa ở mức hợp lý, lãi suất liên ngân hàng ở mức thấp để hỗ trợ tín dụng tăng trưởng cao ngay từ đầu năm, hỗ trợ ổn định mặt bằng lãi suất huy động, có điều kiện giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ Bộ Tài chính phát hành thành công trái phiếu Chính phủ với khối lượng lớn cho các kỳ hạn dài lên đến 15-30 năm, lãi suất giảm mạnh từ 0,62 đến 1,89%/năm so với cuối năm 2016.

Việc chủ động điều hành lãi suất của NHNN đã giúp mặt bằng lãi suất trong năm ổn định và giảm, dù có thời điểm phải đối diện với áp lực tăng khá cao. Tuy có sức ép tăng trong những tháng đầu năm nhưng từ ngày 10-7, để hỗ trợ giảm chi phí hoạt động cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ, NHNN đã điều chỉnh giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa đối với các lĩnh vực ưu tiên, điều chỉnh giảm 0,25%/năm các mức lãi suất điều hành. NHNN cũng chỉ đạo các TCTD tiếp tục chủ động triển khai các biện pháp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động để tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên. Nhờ vậy, mặt bằng lãi suất hiện nay đã giảm mạnh (chỉ bằng 40% lãi suất cuối năm 2011), phù hợp mục tiêu điều hành, diễn biến tiền tệ và lạm phát, đồng thời bảo đảm hài hòa lợi ích của người gửi tiền, TCTD và khách hàng vay.

Ngay từ đầu năm, trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng GDP 6,7% và lạm phát bình quân khoảng 4%, NHNN xây dựng mục tiêu định hướng tăng trưởng tín dụng (TTTD) cả năm tăng khoảng 18%, có điều chỉnh phù hợp tình hình thực tế. Ðồng thời, thực hiện phân bổ chỉ tiêu TTTD đến từng TCTD và xem xét điều chỉnh chỉ tiêu TTTD bảo đảm nguyên tắc vừa linh hoạt vừa thận trọng, tránh tác động bất lợi đến các cân đối vĩ mô, kiểm soát lạm phát, an toàn hoạt động của hệ thống các TCTD trong năm 2017 và những năm tiếp theo. NHNN chỉ đạo các TCTD hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao. Theo đó, cơ cấu tín dụng đã dịch chuyển tích cực theo hướng tăng tỷ trọng đối với các lĩnh vực là động lực cho tăng trưởng kinh tế như công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp nông thôn. Hiệu quả tín dụng đối với tăng trưởng kinh tế có xu hướng cải thiện, tốc độ tăng tín dụng cần thiết cho 1% tăng trưởng kinh tế đã giảm từ 3,84% trong quý I xuống 3,1% trong quý II và xuống còn 2,52% trong quý III.

Một điểm sáng cũng được đánh giá cao trong điều hành CSTT năm 2017 là giữ được ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối và giá trị đồng tiền Việt Nam. Thị trường ngoại tệ, tỷ giá về cơ bản ổn định, thanh khoản thị trường tốt đã giúp hệ thống các TCTD mua ròng ngoại tệ từ khách hàng, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của tổ chức, cá nhân được đáp ứng đầy đủ, kịp thời. Ðến nay, tỷ giá VND/USD chỉ tăng bình quân khoảng 1,1 - 1,2%, thị trường ngoại hối trong nước ổn định hơn nhiều so với mức biến động khá lớn của các nước trên thế giới và khu vực. Nếu so sánh với các đồng tiền khác trong khu vực châu Á, đồng Việt Nam là một trong những đồng tiền ổn định nhất khu vực. Với cơ chế điều hành tỷ giá trung tâm linh hoạt, kết hợp điều tiết thanh khoản tiền đồng hợp lý, theo dõi sát tình hình thanh khoản thị trường và trạng thái ngoại tệ để điều chỉnh tỷ giá mua phù hợp, trong năm 2017 NHNN cũng đã rất thành công khi mua được lượng lớn ngoại tệ từ các TCTD, nâng mức dự trữ ngoại hối quốc gia lên mức kỷ lục gần 48 tỷ USD. Tính chung từ đầu năm đến nay, lượng ngoại tệ NHNN mua ròng ước đạt khoảng tám tỷ USD. Ðây sẽ là dự trữ an toàn cho Việt Nam trước nhiều biến động trong tương lai. Với quy mô dự trữ ngoại hối của Việt Nam gia tăng nhanh chóng như vậy, cũng sẽ góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong đánh giá của các tổ chức xếp hạng quốc tế, cũng như trong mắt nhà đầu tư nước ngoài.

2017 còn được đánh giá là năm đạt được những dấu ấn quan trọng trong tiến trình tái cơ cấu các TCTD. Kết thúc giai đoạn 1 của Ðề án tái cơ cấu các TCTD, mục tiêu đạt được là sự ổn định của hệ thống các TCTD, kể cả những TCTD được NHNN mua lại thành ngân hàng 100% vốn Nhà nước. Hiện, các TCTD này cũng đang hoạt động tích cực. NHNN đang bước vào xây dựng và triển khai Ðề án tái cơ cấu các TCTD giai đoạn 2 theo Quyết định 1058 của Chính phủ. Với đề án này, khi Nghị quyết 42 về xử lý nợ xấu và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Các TCTD vừa được thông qua sẽ là điều kiện pháp lý quan trọng cho các giải pháp, biện pháp thực hiện Ðề án tái cơ cấu giai đoạn 2 có được những kết quả tích cực trong năm 2018 cũng như những năm tiếp theo.

Thách thức CSTT năm 2018

Dù đã gặt hái được nhiều thành công, được các tổ chức quốc tế và trong nước đánh giá cao, nhưng bước sang năm 2018, CSTT vẫn tiếp tục đối mặt nhiều thách thức, biến đổi khí hậu, an ninh mạng, tình hình chính trị, địa chính trị thế giới, lãi suất đồng USD trên thị trường quốc tế, sự cạnh tranh của thế giới,... tiềm ẩn tác động khó lường. Những biến động trên thị trường tài chính tiền tệ thế giới cũng như diễn biến kinh tế vĩ mô trong nước đều tác động nhất định đối với điều hành CSTT của NHNN nói riêng và thị trường tài chính tiền tệ của Việt Nam nói chung.

Cụ thể, với chính sách tỷ giá, nhiều phân tích đã chỉ ra hai yếu tố cơ bản có thể ảnh hưởng tỷ giá trong năm 2018, là nguồn cung ngoại tệ và giá trị của đồng USD. Theo đó, sức mạnh của đồng USD căn cứ vào chỉ số USD-Index và việc tăng, giảm lãi suất của FED, cũng như tình hình kinh tế của Mỹ. Việc tăng lãi suất hồi cuối năm 2017 theo giới chuyên gia nhìn nhận là đã căn cứ vào sự khả quan của nền kinh tế Mỹ, kỳ vọng về thị trường lao động dồi dào với tốc độ tạo việc làm mới giữ ở mức ổn định, tăng cơ hội cho người lao động, thúc đẩy tiền lương tăng lên. Ðáng chú ý, Dự luật cải cách thuế của phe Cộng hòa vừa được Thượng viện Mỹ thông qua cũng sẽ tạo thuận lợi cho nền kinh tế của Mỹ, gây áp lực lên tỷ giá VND/USD năm 2018. Áp lực lên tỷ giá VND/USD cũng chịu tác động từ việc FED dự kiến sẽ tăng lãi suất USD ba lần trong năm 2018. Ngoài vấn đề tăng lãi suất của FED, việc mậu dịch toàn cầu sẽ có những biến động, chủ yếu tới từ phía Mỹ khi Tổng thống Ð.Trăm tuyên bố có thể trừng phạt quốc gia lợi dụng mậu dịch để trục lợi; hay biến động của giá dầu, giá vàng,… đều ít nhiều tác động tới tình hình tỷ giá. Trong khi đó, tình hình kinh tế trong nước, những yếu tố như xuất nhập khẩu, dự trữ quốc gia, kinh tế vĩ mô năm 2018,… cũng sẽ ảnh hưởng khá lớn đến chính sách tỷ giá. Hay câu chuyện nợ xấu, tín dụng đẩy vào những lĩnh vực rủi ro sẽ tác động lên lạm phát, từ đó gây bất lợi cho tỷ giá VND/USD. Do đó, năm 2018, NHNN cần tiếp tục điều hành chính sách tỷ giá linh hoạt theo quy luật cung cầu.

Bên cạnh đó, lãi suất mặc dù được dự báo không có nhiều thay đổi trong khoảng đầu năm 2018 nhưng cũng sẽ chịu một số áp lực nhất định, tập trung trong cuối năm. Xu hướng lãi suất trung, dài hạn cũng được dự báo có thể tăng nhẹ do tăng nhu cầu nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế, trong khi nguồn vốn dài hạn tại các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn thấp, thậm chí có xu hướng giảm. Thiếu nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế có thể ảnh hưởng đến nguồn vốn chảy vào bất động sản, các dự án đầu tư trung và dài hạn trong năm 2018. NHNN có định hướng và chính sách xuyên suốt nhằm bảo đảm mục tiêu mặt bằng lãi suất ổn định ngay khi lãi suất huy động chịu áp lực tăng. Những tác động không nhỏ từ biến động kinh tế, chính trị thế giới và kinh tế trong nước cũng sẽ gây áp lực cho việc thực thi CSTT, nhất là với mục tiêu ổn định mặt bằng lãi suất và tỷ giá. Ðiều này đòi hỏi trong điều hành, NHNN cần chủ động và linh hoạt hơn nữa, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm bảo đảm ổn định các cân đối vĩ mô và kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý; theo dõi sát diễn biến của kinh tế vĩ mô, tiền tệ trong nước và quốc tế để chủ động thực hiện các biện pháp và công cụ điều hành phù hợp, kịp thời. Ðối với hoạt động ngân hàng, những kết quả quan trọng của quá trình tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015 đã tạo nền tảng chắc chắn, sự ổn định, an toàn hệ thống các TCTD được giữ vững, đồng thời bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Bước vào giai đoạn 2 (2016-2020), những thuận lợi về mặt pháp lý cũng sẽ tạo nền tảng, hỗ trợ quá trình tái cơ cấu gắn với xử lý nợ xấu hiệu quả hơn. Tuy nhiên, vấn đề tiếp theo được chờ đợi là toàn hệ thống các TCTD nói chung cũng như NHNN sẽ có những bước đi như thế nào để triển khai các hoạt động một cách hiệu quả.

Bước vào năm 2018, điều mà thị trường mong muốn vẫn là quá trình tái cơ cấu sẽ được thực hiện nhanh hơn, triệt để hơn, nhằm giúp cho nền kinh tế có điều kiện phát triển tốt hơn. Ðiều này cũng đòi hỏi CSTT năm 2018 vừa phải bảo đảm kiểm soát lạm phát ở mức 4% nhưng vẫn tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng từ 6,5 đến 6,7%, kéo giảm nợ xấu cả nội bảng và ngoại bảng dưới 5%, xử lý nhanh sở hữu chéo của NHTM theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các TCTD.

Có thể bạn quan tâm