Lính biên phòng "cắm bản" Rào Tre

Từ kiếp sống ăn hang ngủ hốc trong rừng thẳm, được Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh phát hiện đưa ra khỏi "thế giới hái lượm", sau hai mươi năm người Chứt ở bản Rào Tre (huyện Hương Khê, Hà Tĩnh) mới thấm thía hạnh phúc khi được gia nhập cộng đồng. Cái đầu đã biết nghĩ, cái tay đã biết làm, những tàn dư lạc hậu dần dần biến mất...

Bộ đội biên phòng trò chuyện với bà con người Chứt về cách làm ăn mới.
Bộ đội biên phòng trò chuyện với bà con người Chứt về cách làm ăn mới.

Gặp những người lính "cắm bản"

Chúng tôi trở lại bản Rào Tre nơi có đồng bào Chứt đang sinh sống trong những ngày đầu năm mới. Vẫn là ngọn núi Ka Ðay giống hình con lạc đà, trên lưng dờn dợn mây trắng, nhưng "cái phần đuôi con lạc đà" ngày trước còn le te cây hoang dại, giờ được lợp kín những tán keo tai tượng mỡ màng, ánh ỏi. Những ngôi nhà sàn xâm xẩm mầu ngói, thấp thoáng bóng trẻ em đang ngồi chơi trên sân hay dắt díu nhau ra bãi cỏ non bắt chuồn chuồn. Chưa đến mùa cấy lúa nước, cả làng vắng hoe. Cữ này đàn ông, đàn bà đều kéo nhau vào rừng kiếm củi, hái măng. Chờ khi nào qua đợt mưa dồn, thác nhảy, người Chứt mới cắm mạ xuống ruộng làm tiếp vụ sau...

Vừa đặt chân tới ngôi nhà của những người lính biên phòng "cắm bản", tôi thật sự ngỡ ngàng khi tận mắt thấy dòng chữ tươi rói trên tấm biển xanh "Trạm quân dân y Rào Tre" với ngôi nhà cấp bốn chia ba gian thoáng mát. Phòng nào cũng trang bị giường i-nốc, đèn điện nê-ông, quạt trần, chăn, chiếu hoa, khang trang, sạch sẽ.

Bác sĩ Nguyễn Nam Giang vừa đo huyết áp và kiểm tra tim phổi cho người bệnh xong. Anh mở túi thuốc lấy ra sáu viên thuốc, rồi nhẹ nhàng rót cốc nước lọc mời người đàn ông nọ uống. Bác sĩ Giang bảo tôi: "Ông này bị cảm sốt hai ngày rồi, đắp chăn nằm rên mà không chịu lên trạm. Anh em bộ đội biên phòng dìu xuống đây điều trị để đêm tiện theo dõi. Sau khi tiêm, uống thuốc đã cắt được sốt, người bệnh ăn được cháo rồi. Lưu lại đây một hôm nữa sẽ khỏi thôi".

Ðồn trưởng Trần Viết Hùng tâm sự: "Bà con người Chứt hiền như đất, thật như đếm. Bây giờ họ đã có ý thức cất của để dành. Nhưng sức khỏe là vàng, nhiều người vẫn chưa biết giữ, có khi đang ốm họ ra giếng gội đầu cũng nên. Chính vì thế, khi phát hiện trong bản có một người ốm, cả tổ công tác trạm Rào Tre mất ăn, mất ngủ".

Trung tá Dương Thanh Tịnh xuống "cắm bản" từ khi người Chứt rời hang tới nay. Tịnh đã trở thành người con thủy chung nhất, nhưng cũng là người vất vả nhất, bởi anh được giao nhiệm vụ tổ trưởng tổ công tác, mọi việc to nhỏ trong dân đều đến tay anh. Ở lâu với dân, nên Dương Thanh Tịnh đã quen từng ngõ, thuộc tên từng người trong bản.

Tịnh kể: Cánh đàn ông người Chứt rất thích uống rượu. Lợi dụng điểm yếu này, kẻ xấu ở vùng khác thường hay trà trộn vào gạ gẫm đổi hàng hóa. Khi chất men đã ngấm vào người, khách ưng gì họ đều đổi tất. Từ gạo, ngô đến gà, lợn, trâu, bò... đều bị men rượu dắt đi hết. Ðã ba lần Tịnh cùng với năm chiến sĩ khác, phóng xe máy rượt đuổi hàng chục cây số để lấy lại ba con trâu cho bà con khi bị kẻ xấu mang đi.

Anh bảo: "Dắt trâu về chỉ mệt hôm đó thôi. Mệt nhất là việc đi từng nhà thuyết phục vận động, rồi nhờ Trưởng bản Hồ Kính đến giải thích, hằng tuần họp bà con trong bản lại nhắc nhở". Với phương châm "mưa dầm thấm sâu" của chiến sĩ biên phòng, người Chứt mới ngẫm ra: Bộ đội thương mình họ mới giữ của cho mình. Thiếu gạo, thiếu chăn màn, thiếu thuốc họ còn cho mình, tại sao ta cứ làm khổ họ mãi thế?

Bây giờ, sự văn minh tiến bộ của cộng đồng đã nhập vào với người Chứt. Cái cảnh phụ nữ mang thai đến kỳ sinh nở phải dựng lều trong rừng sâu đẻ, hay phụ nữ đến chu kỳ kinh nguyệt phải nằm ngủ rừng sau năm ngày mới về nhà, hiện đã được "vùi sâu, chôn chặt". Thậm chí nếu ai nhắc lại điều này, họ còn thấy ngượng ngùng xấu hổ. Những người lính biên phòng "cắm bản" không chỉ tỉ mỉ hướng dẫn cách phòng bệnh mùa đông, cách phòng bệnh mùa hè, mà còn tập cho họ quen dần với nền nếp vệ sinh thân thể như: biết dùng bàn chải đánh răng, biết sử dụng xà-phòng giặt quần áo, biết chỉnh trang tóc tai, biết đi giày dép và cầm gương soi.

"Cầm tay chỉ việc" từ vườn tới ruộng

Bây giờ bà con người Chứt, vẫn quen gọi cây chuối vườn nhà mình là "Chuối ông Ðệ". Chả là vào năm 2000, Trung tá Kiều Minh Ðệ được Ban Chỉ huy Bộ đội biên phòng Hà Tĩnh điều chuyển vào "Tổ công tác đặc biệt", tổ có năm thành viên do Ðệ làm tổ trưởng, với mục tiêu: Giúp đồng bào ở bản Rào Tre "xóa đói, giảm nghèo". Xách ba-lô về bản chưa đầy một tuần lễ, Ðệ đã nghĩ ngay đến việc phải khẩn trương "huấn luyện" bà con người Chứt biết thiết lập vườn cây, ao cá, chứ không thể để đất hoang, cây dại, cỏ bò vô tận sân như thế này mãi được. Suy đi tính lại, Kiều Minh Ðệ nghiệm ra rằng trong các loài cây dễ trồng và thu hái nhanh nhất vẫn là cây chuối. Thế rồi Ðệ tranh thủ về quê anh ở xã Ðức Hồng, bứng một lúc bảy gốc chuối, thuê xe chở vào tận đơn vị. Lúc đầu anh trồng thí nghiệm quanh khu vực doanh trại và đem hai cây "biếu" trồng tại vườn nhà Trưởng bản Hồ Kính. Ðến mùa chuối trổ buồng, anh mời mọi người đến xem. Bà con xì xào: Chuối bộ đội và chuối trưởng bản ra quả đẹp lắm, quả xanh nấu canh được, quả chín ăn ngọt và ngon. Trăm nghe chẳng bằng một thấy, dân làng mân mê, ai cũng vui cái bụng, cứ thế bộ đội biên phòng phân phát cây giống và hướng dẫn từng gia đình trồng. Từ cây chuối, những người lính biên phòng lại tiếp tục "cầm tay chỉ việc" để đồng bào Chứt tập làm quen với các giống khác nhưng đòi hỏi yếu tố kỹ thuật cao hơn như cam, chanh, bưởi, na. Các anh bày cho họ chẻ giang, nứa làm giàn bầu, bí, rồi bày cách vun luống khoai lang, trỉa hạt rau, hạt đậu thế nào cho nảy mầm.

Trung tá Dương Thanh Tịnh nhắc lại: "Trăm thứ cực chẳng có nỗi cực nào bằng đưa người Chứt xuống ruộng tập cày, tập cấy lúa nước. Những buổi đầu tới ruộng, một số chị em cứ đứng tần ngần xem bộ đội cấy, chỉ mỗi việc cắm cây mạ xuống bùn non thôi mà cứ phải dặn đi dặn lại hàng chục lần". Rồi lại chuyện tập cày, tập bừa cho cánh đàn ông ở đây cũng khiến các chiến sĩ đổ không biết bao nhiêu mồ hôi, từ ấn lưỡi cày vào đất, đặt dây thừng đến cách điều khiển con trâu vòng trái, vòng phải khi sắp hết đường cày. Quả thật, không có phép mầu nhiệm nào bằng sự kiên trì của người lính biên phòng "cắm bản". Một vụ rồi hai vụ, dần dần người Chứt đã thích làm ruộng, thích làm vườn lúc nào không biết nữa. Mỗi độ xuân sang, bên con suối Rào Tre trong văn vắt lại xanh rì lúa nước. Ðến mùa thu hoạch với diện tích 3,2 ha, lúa đều đẻ bông mẩy, ngô đều kết bông chắc.

Tôi theo chân Trung tá Dương Thanh Tịnh tới nhà chị Hồ Thị Nam. Chị Nam là đại biểu HÐND huyện Hương Khê, một phụ nữ chăn nuôi giỏi của đồng bào Chứt. Người phụ nữ nhỏ nhắn nhưng khá nhanh nhẹn này bộc bạch: "Tui nuôi được trâu bò cũng nhờ các chú bộ đội giúp đỡ nhiều. Khi chưa có vốn, các chú bày cho tôi cách xin vay vốn. Bây giờ gia đình tôi đã nuôi được ba con trâu, hai con bò rồi".

Vừa nói, chị Nam vừa dẫn chúng tôi xem con trâu nhà chị đang buộc dưới gốc cây sồi cổ thụ. Chợt thấy bóng chủ, con trâu ve vẩy đuôi, chưa đầy hai tuổi nhưng nó đã trở thành một con trâu "mình khủng, chân to", bộ lông đen mượt. "Chỉ ăn cỏ núi thôi mà trâu ở nhà mô cũng to như thế cả. Ông Hồ Bắc, Hồ Nhân, Hồ Hùng cũng có số trâu xấp xỉ như nhà chị Nam" - anh Tịnh thông tin thêm.

Có thóc trong nhà lại lo "cái chữ"

Thượng tá Võ Trọng Hải, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh mỗi lần tới bản Rào Tre thường động viên và khuyên nhủ anh em đang công tác tại bản: "Dù ta có nhiệt tình bao nhiêu chăng nữa thì so với người dân miền xuôi, đồng bào Chứt vẫn còn nhiều thiệt thòi. Lo cho người Chứt không chỉ hôm nay mà là cả một chiến lược phát triển lâu dài và bền vững. Bày vẽ cho họ sản xuất để có cơm ăn, áo mặc chưa đủ, còn phải lo chăm sóc sức khỏe và đời sống văn hóa tinh thần".

Tôi gặp lại Trưởng bản Hồ Kính - người đảng viên đầu tiên của bản, thấy gương mặt ông rạng rỡ hẳn lên với bộ răng vàng khè và chất giọng sôi nổi: "Bữa ni cả 38 hộ người Chứt đều có điện thắp sáng rồi, 29 hộ đã sắm được ti-vi mầu, chín người sắm xe máy. Dân bản lại được đi đường nhựa, được uống thuốc bộ đội biên phòng cấp nên cái miệng bớt ho, cái lưng đỡ mỏi hơn nhiều".

Tôi hỏi Hồ Kính:

- Thế người Chứt hiện tại có bao nhiêu cháu được đến trường?

Chẳng cần phải lấy sổ sách tài liệu gì cả, Hồ Kính trình bày bằng bộ nhớ của óc mình rất rành rọt:

- Cả bản có 42 cháu đang theo học các cấp, tám cháu học hệ mầm non, 15 cháu tiểu học, 14 cháu đang theo học Trường dân tộc nội trú Hương Khê, năm cháu đang gửi học Trường tư thục Duy Tân ở thành phố Hồ Chí Minh.

Hồ Kính khoe:

- Cách đây ba năm nhạc sĩ An Thuyên về thăm bản, phát hiện ra cháu Hồ Xuân Kham và Hồ Thị Bình Xuân có năng khiếu về âm nhạc và hội họa, ông nhận luôn hai cháu vào Trường đại học Văn hóa quân đội ở Hà Nội để đào tạo.

Có dịp tìm hiểu cội nguồn văn hóa của dân tộc Chứt, tôi rất ngạc nhiên khi phát hiện rằng họ rất yêu âm nhạc. Bộ tộc ấy có một kho báu âm nhạc từ lâu đời. Mấy anh lính biên phòng "bật mí": Người Chứt mê nhạc đến nỗi họ đang cấy dưới ruộng, nhưng nghe nhạc phát trên loa đài, tất cả đều muốn nhảy cẫng lên bờ ruộng. Ở đây có bà Hồ Thị Sen biết chơi đàn Chơ rơ bon, ông Hồ Phương biết thổi kèn môi hay lắm.

Có những vị khách khi đặt chân tới chốn này, đắm mình trong tiếng đàn, tiếng khèn, thả hồn du dương với ngọn suối trong. Họ đã nhớ, đã yêu núi rừng Ka Ðay điệp trùng hoàng hôn tím...

Có thể bạn quan tâm