Ðiều đó thể hiện khá rõ ràng trong luật pháp quốc tế và trong nước. Công ước số 138 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã quy định, tuổi tối thiểu được làm việc trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 15 tuổi.
Ở nước ta, Bộ luật Lao động cũng đã nói rõ: Cấm nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi vào làm việc (những trường hợp ngoại lệ có quy định riêng).
Từ các quy định đó nên các nước trên thế giới và ở nước ta hầu như không tổ chức thống kê theo dõi lao động trẻ em thường xuyên.
Nhưng thực tế thì từ lâu trẻ em ở nhiều nước đã làm việc với tư cách một lao động kiếm sống cho mình và cho gia đình, nhất là các em ở độ tuổi 10-14.
Ở nước ta, theo các số liệu điều tra dân số định kỳ các năm 1979, 1989, 1999 và điều tra chọn mẫu giữa các kỳ cho thấy, trẻ em 13-14 tuổi đã tham gia lao động (hoạt động kinh tế) ở thành thị khoảng 18%, ở nông thôn khoảng 38%.
Hơn hai thập kỷ nay những trẻ em làm việc như người lớn để nuôi mình, nuôi gia đình không còn là hiện tượng cá biệt.
Trong đó đáng lưu ý nhất là những trẻ em tha phương, làm những công việc nặng nhọc quá sức với đồng tiền công thấp kém, rẻ mạt.
Ðể xử lý vấn đề này một cách căn bản, hiệu quả, Nhà nước cần tiến hành một cuộc điều tra để đánh giá đúng hiện trạng, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp.
Hiện nay, theo những thông tin có được thì trong số hàng triệu người tự do di trú từ nông thôn ra các đô thị tìm kiếm việc làm có khoảng 25-30% là trẻ em dưới 14 tuổi. Một hiện tượng khác còn đáng lo ngại hơn là một bộ phận trẻ em hoặc do hoàn cảnh, hoặc là bị lường gạt, bị ép buộc phải đến các vùng xa xôi (miền núi, biên giới...) lao động nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm, không an toàn tính mạng mà công sá hoàn toàn không tương xứng với hao phí lao động kiểu vắt sức...
Hiện tượng này trái với Ðiều 12 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm 2004) đã quy định: Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức; vi phạm nghiêm trọng việc: lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng lao động trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định của pháp luật về lao động.
Vì sao có tình trạng này, nguyên nhân từ đâu? Không thể không nói đến những mặt trái của nền kinh tế thị trường đã có tác động đến lao động trẻ em.
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa chỉ huy thì đôi khi mới có trẻ em phải lao động vất vả, những trường hợp đó chủ yếu là ở nông thôn. Trong nền kinh tế kế hoạch hóa, ở khu vực phi nông nghiệp chế độ tuyển dụng và sử dụng lao động bảo đảm cho trẻ em không lâm vào tình trạng làm việc trước tuổi, làm việc quá sức.
Khi bước vào nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế thì việc sử dụng lao động trẻ em đã khác biệt rất xa so với trước đây.
Ngay trong nông nghiệp nông thôn cũng đã có sự biến đổi lớn. Từ khi hộ gia đình trở thành đơn vị kinh tế tự chủ kinh doanh thì tất cả các hộ đều tận dụng sức lao động của gia đình mình, trong đó có lao động trẻ em, cho dù xã hội còn dư thừa lao động chính - lao động người lớn.
Như vậy, với 75% dân số sinh sống, làm việc ở nông thôn thì việc thu hút lao động trẻ em vào các công việc đồng áng, ruộng vườn đã mang tính phổ biến, nhất là vào thời gian các em nghỉ hè. Ở lĩnh vực công thương nghiệp, dịch vụ do việc kiểm tra, kiểm soát, quản lý lao động của các cấp không chặt chẽ nên không ít trẻ em phải lao động nặng nhọc với thời gian hàng chục giờ/ngày.
Cũng trong nền kinh tế thị trường, giãn cách giàu nghèo khá rõ mà một bộ phận trẻ em buộc phải đi tìm kiếm việc làm xa nhà và lâm vào tình trạng bị lạm dụng sức lao động. Từ đó tạo điều kiện cho chủ doanh nghiệp tư nhân tiết kiệm chi phí sản xuất bằng biện pháp sử dụng nhiều lao động vị thành niên với tiền công rẻ mạt.
Về mặt xã hội, do có nhiều biến cố lớn của một số gia đình như: Cha mẹ bất hòa, ly hôn... nên bỏ mặc con cái, các em tự lo cuộc sống cho mình, phải đi làm kiếm sống...
Xử lý cho được những vấn đề nói trên không phải đơn giản. Trên thực tế các nguyên nhân có sự đan xen, tác động qua lại lẫn nhau, phải thực hiện cùng lúc nhiều giải pháp.
Trước hết, gia đình và xã hội cùng có trách nhiệm với trẻ em. Người làm cha, làm mẹ hơn ai hết phải ý thức được nghĩa vụ của mình với con cái. Vì thế không vì nghèo túng, không vì bức xúc bởi đồng tiền, bát gạo mà bắt con cái phải bỏ học sớm dấn thân vào những công việc quá nặng nhọc, lam lũ. Về phía Nhà nước và cộng đồng phải thông qua các chính sách, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, miễn giảm học phí, viện phí, cứu trợ xã hội... để giúp họ có thể vượt qua khốn khó.
Về mặt luật pháp, chính sách, quản lý, phải tập trung hơn nữa việc chống lạm dụng sức lao động trẻ em. Trong chương trình hành động bảo vệ và phát triển trẻ em Việt Nam và trong chỉ đạo thực hiện chương trình này cho đến nay hầu như mới chỉ tập trung nhiều vào bốn loại vấn đề là sức khỏe cho mọi trẻ em; giáo dục tiểu học; chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần; quan tâm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Trong nền kinh tế thị trường và trong tình hình hiện nay phải triệt để chống lạm dụng sức lao động trẻ em, vì nếu trẻ em lâm vào tình trạng lao động sớm, làm việc quá sức thì các mục tiêu bảo vệ sức khỏe, giáo dục đào tạo, văn hóa tinh thần... đều khó mà thực hiện được.
Qua đó, đẩy mạnh tuyên truyền vận động lao động, việc làm, nhất là vùng nông thôn xa xôi. Các chương trình thời sự, chương trình vì trẻ thơ của đài truyền hình, đài phát thanh phải nói kỹ, nói rõ, nói theo cách dân dã để ông bà, cha mẹ các cháu hiểu được vấn đề. Các chương trình văn hóa, văn nghệ cũng cần đề cập sâu sắc tới vấn đề này. Ðoàn thanh niên, Hội đồng đội phải phổ biến các kiến thức thiết thực đến các em. Các cơ quan chức năng của Nhà nước phải giới thiệu, phổ biến, tập huấn sâu rộng Bộ luật Lao động đến mọi người dân, có lưu ý đầy đủ đến những người sử dụng lao động nhất là các cơ sở, các hộ tư nhân sản xuất, kinh doanh.