ND - Quanh năm sống trên biển, ngư dân Hạ Long (Quảng Ninh) lấy thuyền là nhà, vịnh là quê hương. Mỗi con thuyền là một gia đình, trẻ em sinh ra trong tiếng sóng vỗ ì oạp, lớn lên cùng chiếc võng nhỏ trên mui thuyền, biết bơi trước khi biết chữ.
Ngày Tết, cây nêu trước thuyền sẽ làm dấu cho tổ tiên tìm về và ngày đẹp đầu năm được chọn làm lễ Giở mũi thuyền, cầu mong một năm đánh bắt bội thu. Lời giới thiệu ấy đưa chúng tôi tìm đến Cửa Vạn, một làng chài độc đáo và lớn nhất trong số bốn làng chài trên vịnh Hạ Long (Vông Viêng, Ba Hang, Cống Tàu, Cửa Vạn).
Trước kia là thuyền, bây giờ là nhà
Nằm trong lòng Di sản thiên nhiên thế giới - vịnh Hạ Long, cách bến tàu du lịch Bãi Cháy 30 km về phía đông- nam, cách khu dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà 10 km về phía đông, trên mênh mang biển cả, Cửa Vạn được che chở bởi núi Ngọc và dãy núi Hang Trai, với 122 hộ dân và gần 600 nhân khẩu sinh sống bằng nghề đánh bắt và nuôi trồng hải sản. Cửa Vạn ngày nay hình thành trên cơ sở hai làng thủy cư cổ Trúc Võng và Giang Võng, từng neo đậu ở khu vực dưới chân cầu Bãi Cháy bây giờ, chạy sâu vào khu vực Hoành Bồ. Trước đây, người dân sinh sống chủ yếu trên những con thuyền nay đây mai đó, di cư tự do trên biển.
Con thuyền vừa là phương tiện vừa là "nhà ở". Thuyền của ngư dân Cửa Vạn cũng giống như của ngư dân các làng chài khác, bao gồm ba phần: phần mũi để làm nghề (người ta ngồi trên mũi thuyền thả lưới, quăng câu); phần khoang để ở và thờ cúng tổ tiên, phần đuôi, hay còn gọi là phần lái là nơi để nấu nướng, trẻ em vui đùa và có thể nuôi thêm gia súc. Cuộc sống của họ cứ thế lênh đênh trên sóng biển, đời này qua đời khác, họ sống hòa mình với biển bằng những phương thức khai thác thủy sản truyền thống như câu, đánh lưới, đánh chã, đánh vó, vớt mực...
Ðể đánh bắt được nguồn hải sản phong phú ở địa hình đặc biệt của vùng vịnh, ngư dân Hạ Long đã tạo ra nhiều loại ngư cụ, trong đó lưới và chã đóng vai trò chủ lực. Có hàng chục loại lưới với kích cỡ, cấu tạo và cách sử dụng khác nhau, riêng chã kéo, lưới giăng có hiệu quả đánh bắt lớn nhất.
Năm 1963, được sự quan tâm của các cấp chính quyền thành phố Hạ Long và tỉnh Quảng Ninh, làng chài Cửa Vạn được thành lập, ban ngày đi đánh bắt, ban đêm các con thuyền tập trung lại, neo đậu ở vùng biển tĩnh lặng, trong sự bảo vệ của núi Ngọc và dãy Hang Trai. Từ đó, người dân bám biển, bám làng, xây dựng nếp sống có tổ chức ổn định.
Tuy nhiên cuộc sống của họ chủ yếu vẫn là đánh bắt tự do, cho đến năm 1995, mô hình nuôi cá lồng bè lần đầu xuất hiện tại Cửa Vạn, là thời điểm đánh dấu sự thay đổi cả về tập quán sinh hoạt lẫn chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây. Các loại cá như: song, giò, hồng, sác... được nuôi nhiều nhất, có giá trị kinh tế cao, giá thu mua tại chỗ khoảng 160-180 nghìn đồng/kg cá song, từ 2 đến 3 năm thu hoạch một lứa, mỗi nhà có vài lồng quy mô và thời gian cho thu hoạch khác nhau.
Bà Dương Thị Gái cho biết, gia đình bà nuôi bảy lồng cá, cho thu nhập bình quân 30- 40 triệu đồng/năm (bà có chín người con, chỉ có một người vào đất liền sống còn tất cả đều lập gia đình và sinh sống trên biển). Nhờ nghề mới này, các hộ dân ở đây đã có tiền làm nhà bằng gỗ và các loại vật liệu nhẹ trên bè xốp, không còn cảnh sống trên thuyền như trước kia. Nhiều gia đình đã mua sắm bàn ghế, giường tủ, máy phát điện để thắp sáng, xem ti-vi...
Cũng từ đó, một số nghề mới xuất hiện như thu mua hải sản, bán thực phẩm, nước sinh hoạt, bánh, kẹo, nước giải khát, chèo thuyền đưa khách du lịch thăm làng...; nhiều thanh niên Cửa Vạn còn làm hợp đồng cho các công ty trai ngọc.
Năm 2006, được sự tài trợ của UNESCO, Trung tâm văn hóa nổi Cửa Vạn ra đời, là nơi trưng bày, giới thiệu các tài liệu, hiện vật, hình ảnh về cuộc sống của ngư dân Hạ Long nói chung và ngư dân Cửa Vạn nói riêng, trở thành điểm hút khách du lịch nằm trong lòng Di sản thiên nhiên thế giới. Nhiều thanh niên của làng đã trở thành nhân viên của Trung tâm, thuộc sự quản lý của Ban Quản lý Vịnh Hạ Long.
Sự phát triển các loại hình dịch vụ, du lịch tạo thêm diện mạo mới cho đời sống người dân nơi đây, thuyền bè ra vào rộn rã, sự giao lưu với đất liền ngày càng mở rộng, dân trí ngày được nâng lên. Trước kia hầu hết chị em sinh con dưới thuyền nhờ sự giúp đỡ của bà "mụ vườn", ốm đau có mấy bài thuốc nam gia truyền chữa trị, bây giờ thì khác, người ốm, sản phụ được đưa vào đất liền sinh nở, chăm sóc. Cuộc sống đã thay đổi rất nhiều. Khi thăm vịnh Hạ Long, rẽ vào "cổng làng", bạn sẽ thật sự ngạc nhiên, giữa bao la biển cả, núi non hùng vĩ có một cụm dân cư yên bình đến thế...
Lớp học trên biển
Ðã từ nhiều đời, người dân ở đây không được học đọc, học viết, hầu hết họ không biết chữ. Năm 1998, lớp học đầu tiên xuất hiện, bắt đầu quá trình xóa mù chữ cho nhiều thế hệ sinh sống tại đây. Ban đầu chỉ là lớp học tạm thời, do một số giáo viên trẻ mới ra trường và các sinh viên tình nguyện ra biển giúp bà con xóa mù chữ. Còn bây giờ, làng chài trên biển mênh mông này đã có một cơ sở đào tạo, trên diện tích 150 m2, gồm bốn phòng học và vài phòng nhỏ dành cho giáo viên, là phân hiệu của Trường THCS xã Hùng Thắng, TP Hạ Long. Phân hiệu Cửa Vạn gồm bảy lớp học ở các độ tuổi khác nhau, từ 8 đến 17 tuổi, ngoài ra còn một lớp xóa mù chữ cho người lớn tuổi.
Bà Dương Thị Gái cho biết: Nhà tôi ở biển đến đời cháu tôi là đời thứ sáu rồi, trước đây cứ Tết đến thì gia đình tôi lại vào bờ đón Tết (cũng chỉ sống vạ vật thôi chứ làm gì có nhà trong đất liền), nhưng từ năm 1998, có làng rồi nhà tôi ở ngoài này luôn. Bây giờ lại có trường lớp cho con, cháu đi học, chúng tôi mừng lắm, con trai tôi 34 tuổi rồi cũng học lớp 1. Cuộc sống giống như ở đất liền thì cũng chẳng muốn vào đất liền nữa, vả lại cũng không đủ điều kiện mà vào...
Chị Nguyễn Thị Phượng, 26 tuổi tâm sự, gia đình chị sống tại phường Cao Xanh (TP Hạ Long), nhưng vì nhà nghèo, thuở bé không được đi học phải đi làm nuôi các em, lớn lên lấy chồng ra biển, có con nhỏ, nên cũng chưa có điều kiện đi học, tuy không biết chữ nhưng tính tiền mua bán rất thạo.
Cùng một số khách du lịch vào thăm một lớp học, thật bất ngờ khi chúng tôi xem vở viết của một số học sinh trong lớp, ai cũng trầm trồ bởi chữ viết rất đẹp. Thấy chúng tôi tấm tắc mãi, anh lái thuyền nói thêm: Cũng tài thật, trẻ con ở đây không có điều kiện học hành nhưng nhiều em viết rất đẹp, có em còn được giải cao của thành phố về vở sạch, chữ đẹp đấy.
Nói về nghề, cô giáo Lưu Thị Hồng, 31 tuổi, bộc bạch: Tôi nhận công tác ngoài biển được gần một năm học, buổi đầu còn nhiều bỡ ngỡ, không tránh khỏi tâm trạng buồn nản, nhưng sau một thời gian, chúng tôi thấu hiểu hoàn cảnh của người dân nơi đây, sự thiệt thòi của các em học sinh, lâu dần lại thấy gắn bó. Dạy trong đất liền vất vả một thì ở đây gấp năm bảy lần vì các em không được tiếp xúc với cuộc sống xã hội văn minh, môi trường khép kín trong một vùng biển xa đất liền, nên nhận thức chậm, thêm vào đó lứa tuổi không đồng đều, nhiều học sinh chỉ được học 2-3 buổi/ tuần vì còn phải dành thời gian giúp công việc gia đình. Trụ lại ở đây cần hơn hết là tấm lòng yêu trẻ, biết chia sẻ với các em những thiệt thòi của hoàn cảnh.
Phân hiệu trên biển thường xuyên có năm giáo viên, ra biển theo nhiệm kỳ ba năm học. Thường thì đầu tuần ra, cuối tuần về, cô nào có con nhỏ thì sáng đi, tối về theo tàu của Ban Quản lý vịnh. Khó khăn là thế nhưng dự một buổi học của các em, có lớp chỉ có 5-7 học sinh vẫn thấy không khác gì một buổi học của bất kỳ một lớp học nào khác, cô giảng, trò học say sưa, không bị phân tán bởi người ra, kẻ vào. Có lẽ cả cô và trò đều đã quá quen với những đoàn khách du lịch tò mò muốn tìm hiểu những điều mới lạ của cuộc sống.
Thú vị biết bao nơi làng chài Cửa Vạn, mỗi buổi sớm mai, khi biển còn lặng sóng, núi còn "ngủ" trong sương, chứng kiến cảnh nhộn nhịp đến trường bằng thuyền của học sinh làng chài. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng mái chèo khua động cả một vùng biển yên tĩnh. Những chiếc thuyền nan bé nhỏ chở những khuôn mặt hớn hở đến lớp như chở cả tương lai tươi sáng đến với làng chài.