Lạng Sơn đẩy mạnh trồng rừng gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm

Là tỉnh có hơn 80% diện tích đất lâm nghiệp, những năm qua Lạng Sơn đã có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ người trồng rừng. Nhờ thế, nhiều hộ nông dân đã mạnh dạn đầu tư trồng rừng lấy gỗ đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần xóa đói, giảm nghèo bền vững.

Nhiều hộ gia đình ở huyện Hữu Lũng mở xưởng chế biến gỗ bạch đàn.
Nhiều hộ gia đình ở huyện Hữu Lũng mở xưởng chế biến gỗ bạch đàn.

Làm giàu từ rừng xanh

Thôn Bản Tẳng, Bằng Khánh (huyện Lộc Bình), nằm dưới chân dãy núi Mẫu Sơn hùng vĩ. Trong thôn có 80 hộ dân, cuộc sống của người dân đều trông chờ vào vườn rừng, mỗi hộ có từ 0,8 đến 3 ha rừng. Rừng ở đây chủ yếu là cây thông mã vĩ. Anh Lê Văn Thắng, ở thôn Bản Tẳng cho biết: Từ năm 1996, người dân trong thôn được triển khai dự án Việt - Ðức, cho nên hộ nào cũng được hỗ trợ trồng rừng. Rừng trồng từ 15 năm nay đã cho khai thác nhựa.

Ðến nay, trong thôn có hơn 50% số hộ có thu nhập từ rừng thông bình quân mỗi năm từ 120 đến 200 triệu đồng/hộ. Anh Lê Văn Thắng cũng phấn khởi chia sẻ, gia đình anh có hơn 2 ha rừng thông, trong đó có khoảng 2.600 cây cho khai thác nhựa. Năm 2018, gia đình thu được gần 300 triệu đồng từ khai thác nhựa thông và gỗ thông.

Phó Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Lộc Bình Lê Minh Tuấn thông tin thêm: chỉ trong sáu tháng đầu năm nay, người dân trên địa bàn huyện đã khai thác gỗ trồng hơn 7.124 m3 (chủ yếu là gỗ bóc) và nhựa thông được hơn 1.774 tấn. Nhựa thông và gỗ thông, bạch đàn, keo đều được các doanh nghiệp thu mua chế biến ngay trên địa bàn và xuất khẩu sang Trung Quốc.

Ðến với xã giáp biên Bắc Xa (huyện Ðình Lập), thật không thể hình dung là 10 năm trước Bắc Xa còn là xã đặc biệt khó khăn, có đến 70% số hộ nghèo. Ông Kỳ Dung Phú, ở bản Mạ, nguyên là Chủ tịch UBND xã Bắc Xa nhớ lại: Cách đây hơn 10 năm, xã thuộc diện năm không: không đường đến trung tâm xã, không điện, không trạm xá, không nhà văn hóa thôn bản và không nhà mẫu giáo. Một số gia đình dân tộc Tày, Nùng, Dao... do không chịu được cảnh nghèo đói đã đi tìm vùng đất mới ở miền nam. Trước những khó khăn đó vào những năm 90 của thế kỷ trước, người dân trong xã được triển khai dự án 661, dự án trồng cây phân tán, do Ðồn Biên phòng Bắc Xa làm chủ đầu tư cây con giống, hỗ trợ về kỹ thuật và gạo...

Vì vậy, đến nay, nhiều rừng thông đã cho khai thác. Chủ tịch UBND xã Bắc Xa, Tô Ðức Sơn, vui mừng nói: toàn xã hiện có hơn 11 nghìn héc-ta rừng thông, trung bình mỗi hộ trồng từ 10 đến 20 ha, nhiều hộ trồng khoảng 40 ha. Nay diện tích rừng thông đã cho khai thác chiếm khoảng 25% diện tích. Năm 2009, cả xã thu được 85 tấn nhựa thông thì đến năm 2018, tăng lên 1.200 tấn; thu nhập bình quân đầu người năm 2018, đạt hơn 30 triệu đồng/năm; trung bình mỗi hộ trồng thông có thu nhập từ 150 đến 200 triệu đồng/năm. Ngoài xác định cây thông là cây chủ lực, người dân xã Bắc Xa phát triển trồng cây dược liệu dưới tán rừng, chỉ sau hai năm triển khai hiện nay xã đã có hơn 75 ha cây sa nhân, ba kích, bước đầu tạo thu nhập cho người dân. Không chỉ đẩy mạnh trồng rừng một số hộ dân trong xã còn mạnh dạn đầu tư thành lập các tổ sản xuất chế biến gỗ. Ðiển hình như hộ gia đình anh Chu Văn Tý, ở thôn Khuổi Sâu, đầu tư thiết bị máy móc, mở xưởng chế biến gỗ thông. Từ năm 2018 đến nay, xưởng chế biến gỗ của gia đình tạo việc làm cho 30 lao động, với thu nhập khoảng 10 triệu đồng/tháng. Nhờ có đời sống kinh tế ổn định, được nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và sự đóng góp của người dân cuối năm 2018, Bắc Xa là xã thứ ba của huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới.

Phó Trưởng phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ðình Lập Vi Văn Phúc chia sẻ: Ðến nay, diện tích rừng thông và rừng keo trồng ở huyện được hơn 60.000 ha, trong đó rừng thông có 49.000 ha và đã có 15.000 ha thông cho khai thác nhựa, mỗi năm sản lượng nhựa đạt hơn 7.500 tấn, thu nhập từ 210 đến 230 tỷ đồng. Còn đối với gỗ thông và gỗ keo, trung bình mỗi năm người dân khai thác hơn 4.600 m3 gỗ tròn và hơn 12 nghìn tấn gỗ băm dăm, với tổng thu nhập lên tới 29 tỷ đồng. Cây thông mã vĩ là cây lấy gỗ, trồng từ 15 năm trở lên mới cho khai thác nhựa. Do hợp với khí hậu, thổ nhưỡng chất lượng nhựa thông ở Ðình Lập tốt, đem lại giá trị kinh tế cao. Nhận thấy lợi ích từ trồng rừng cho nên hằng năm người dân ở huyện Ðình Lập luôn trồng đạt và vượt từ 1.200 ha rừng thông và keo trở lên. Trong khi đó, xác định kinh tế đồi rừng là thế mạnh của huyện cho nên những năm qua, Ðình Lập đã xây dựng quy hoạch trồng rừng, hình thành các vùng trồng thông và cây keo, cây quế... Ðồng thời thực hiện tốt các chính sách về đất đai, cung ứng cây con giống, chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hỗ trợ tín dụng cho người dân trồng rừng.

Tạo động lực mới

Xác định phát triển kinh tế lâm nghiệp là một thế mạnh của tỉnh cho nên trong những năm qua, Lạng Sơn đã ban hành các chính sách như: hỗ trợ lãi suất vốn vay trồng cây lâm nghiệp và cây ăn quả; chính sách đặc thù khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017-2020. Nhờ đó diện tích trồng rừng ở Lạng Sơn, năm sau luôn cao hơn năm trước. Cụ thể là từ năm 2010 đến nay, diện tích trồng rừng của tỉnh đạt hơn 90.000 ha, bình quân đạt 9.500 đến 10.500 ha/năm, góp phần tăng độ che phủ của rừng đến nay lên hơn 62%.

Nhờ có các cơ chế hỗ trợ đó đến nay, toàn tỉnh có 171 doanh nghiệp và xưởng chế biến quy mô hộ gia đình, hàng năm chế biến được 20.500 m3 ván xẻ, 45.500 m3 ván bóc, trong đó có 20.000 tấn nhựa thông, 6.000 đến 6.500 tấn hồi khô. Công ty cổ phần Ðầu tư và Phát triển Sao Bắc Việt, tại huyện Hữu Lũng, đã xây dựng nhà máy chế biến gỗ công nghệ cao, các khâu kỹ thuật chính xác được thực hiện bằng dây chuyền tự động; sản phẩm ván ép đạt tiêu chuẩn cho xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc. Tại hai huyện Lộc Bình và Ðình Lập các doanh nghiệp đã đầu tư xây dựng ba nhà máy chế biến nhựa thông của Công ty Songlees và Công ty Long Tân (tại Lộc Bình), Công ty TNHH Rosin Industries tại (Ðình Lập). Sản phẩm đều đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng cao và xuất khẩu sang thị trường các nước: Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc...

Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hoàng Văn Chiều khẳng định: Trong 10 năm trở lại đây, ngành lâm nghiệp của tỉnh Lạng Sơn đã có nhiều chuyển biến tích cực; việc quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp cơ bản được thực hiện hợp lý, hiệu quả và đạt được những kết quả rõ nét về kinh tế, xã hội và môi trường. Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp (theo giá thực tế) năm 2010 là 657 tỷ đồng, thì đến nay đạt 3.659 tỷ đồng, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, bảo đảm phát triển kinh tế, xã hội bền vững; diện tích đất có rừng tăng qua các năm. Từ năm 2010 đến nay, mức bình quân hằng năm tỉnh đầu tư cho phát triển lâm nghiệp là hơn 46,7 tỷ đồng, chiếm 0,39% tổng mức các hoạt động đầu tư trong toàn tỉnh. Các sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ cơ bản có thị trường tiêu thụ, không có hiện tượng dư thừa, mất giá đối với sản phẩm lâm nghiệp; nhiều sản phẩm đã mang lại nguồn thu lớn cho chủ rừng, góp phần rất lớn vào tạo việc làm có thu nhập khá cho người lao động vùng nông thôn, miền núi, bảo đảm nguồn thu nhập ổn định cho các hộ gia đình sản xuất lâm nghiệp, góp phần quan trọng vào giảm tỷ lệ hộ nghèo nông thôn và nâng cao các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn Hồ Tiến Thiệu, cho biết: Ðể tiếp tục phát huy tiềm năng, thế mạnh của tỉnh về phát triển lâm nghiệp, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp có hiệu quả, hội nhập với xu thế thị trường thế giới về sản phẩm lâm nghiệp, thời gian tới, Lạng Sơn xây dựng những giải pháp mang tính chiến lược, có trọng tâm, trọng điểm, gồm: Tiếp tục thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước về phát triển lâm nghiệp tới các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có tham gia thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhất là các chính sách mới, những xu thế của thị trường trong nước và ngoài nước đối với kinh tế lâm nghiệp, để các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chủ động nắm bắt cơ hội và xây dựng chiến lược cho phát triển sản xuất lâm nghiệp. Ðồng thời tập trung các biện pháp quản lý và kỹ thuật để cải thiện chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp; quy hoạch cơ cấu vùng cây trồng hợp lý để tạo vùng nguyên liệu tập trung, ổn định; áp dụng các biện pháp canh tác lâm nghiệp tiên tiến, theo hướng ứng dụng công nghệ cao; tổ chức khâu chế biến lâm sản hợp lý để nâng cao giá trị rừng trồng và giá trị gia tăng của các sản phẩm; thúc đẩy mở rộng thị trường đối với các sản phẩm lâm nghiệp, nhất là các thị trường có nhu cầu lớn về sản phẩm chất lượng cao, sản phẩm thân thiện với môi trường.

Có thể bạn quan tâm