Làng nghề truyền thống và “bài toán” nhân lực trẻ còn bỏ ngỏ

Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ như hiện nay, những giá trị văn hóa truyền thống ngày càng được chú trọng gìn giữ và phát huy. Thế nhưng, phần lớn các làng nghề truyền thống đều đang đứng trước một bài toán nan giải về nguồn nhân lực trẻ và câu chuyện giữ lửa nghề truyền thống giữa đời sống đương đại.

Người làm tại xưởng tranh thêu hoàn toàn thủ công của nghệ nhân Hoàng Thị Khương chủ yếu là trung niên đã gắn bó với nghề truyền thống từ ngày bé.
Người làm tại xưởng tranh thêu hoàn toàn thủ công của nghệ nhân Hoàng Thị Khương chủ yếu là trung niên đã gắn bó với nghề truyền thống từ ngày bé.

Được mệnh danh là cái nôi của làng nghề với hơn 1.350 làng nghề và làng có nghề truyền thống, Hà Nội từ lâu đã được nhiều du khách lựa chọn làm điểm đến du lịch vì sự phong phú về bản sắc văn hóa, đa dạng về sản phẩm làng nghề. Thế nhưng, trong bối cảnh mới với nhiều biến động, nhiều làng nghề đứng trước nguy cơ mai một, khi việc tìm kiếm các thế hệ trẻ để kế nghiệp, làm nghề và giữ nghề ngày càng trở nên khó khăn.

Đơn cử như tại Quất Động (xã Thường Tín, Hà Nội), ngôi làng có truyền thống thêu tranh hơn 400 năm, nay đang ngày càng vắng bóng những chiếc khung thêu vốn từng là biểu tượng đặc trưng của mỗi nếp nhà. “Trước đây, từ đầu làng cho đến cuối ngõ, nhà nào cũng có ít nhất một khung thêu, nhưng giờ thì chỉ còn một đến hai nhà giữ lại”, nghệ nhân Hoàng Thị Khương trầm ngâm. Hiện tại, xưởng của bà Khương và một số ít hộ dân hiếm hoi còn duy trì sản xuất tranh thêu tay, số còn lại phần lớn đã bỏ nghề để tìm những công việc khác mưu sinh.

nhan-su-tre-lang-nghe-minh-duy-7.jpg
Người trẻ trong làng Hạ Thái lựa chọn đi làm công nhân tại các khu công nghiệp lân cận trong khu vực, thay vì ngồi "mài dũa" từng sản phẩm thủ công truyền thống.

Tình hình có phần khả quan hơn tại làng nghề sơn mài Hạ Thái (xã Thường Tín, Hà Nội) khi số hộ gia đình giữ nghề vẫn đạt gần 40%. Thế nhưng, sự thiếu hụt nhân lực trẻ vẫn là bài toán nan giải khiến những người tâm huyết phải đau đáu. Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Hồi, Chủ tịch Hội làng nghề sơn mài Hạ Thái chia sẻ: “Đa số người làm nghề hiện nay đều ở độ tuổi từ 35 đến 50, thậm chí có người đã gần 70 tuổi, còn người trẻ thì hầu như không có nhiều”.

Thị trường biến động, nhân công thiếu hụt, các làng nghề truyền thống đang gặp phải nhiều khó khăn trong việc giữ chân người trẻ. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này xuất phát từ sự chuyển dịch của những lao động trẻ, những lao động lành nghề sang làm việc ở các lĩnh vực khác hoặc thoát ly khỏi địa phương để tìm kiếm mức thu nhập và chế độ hấp dẫn hơn.

Sự chuyển dịch nhân công

Làn sóng dịch chuyển này càng được thúc đẩy mạnh mẽ khi ngày càng nhiều công ty, doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất về khu vực ngoại thành, áp sát các làng nghề truyền thống. Sự xuất hiện của các nhà máy hiện đại mở ra cơ hội việc làm mới, vô tình tạo nên một cuộc di dời lao động trẻ khỏi các xưởng nghề thủ công, nơi mà nguồn thu nhập từ các mặt hàng truyền thống từ lâu đã không còn đủ sức gồng gánh những nhu cầu cơ bản của cuộc sống.

Với mức lương ổn định từ 8 đến 10 triệu đồng một tháng, nhiều bạn trẻ thay vì lựa chọn tiếp nối nghề truyền thống với mức tiền công bấp bênh chỉ từ 100.000 đến 200.000 đồng một ngày, đã quyết định chuyển sang làm việc tại các công ty. “Nhiều người trẻ thấy nghề thủ công giờ khó khăn, mà thu nhập lại chưa thể đáp ứng cho những lo toan của cuộc sống, nên họ chuyển hướng đi làm công cho doanh nghiệp”, nghệ nhân Hoàng Thị Khương chia sẻ.

Hiện tại, mỗi ngày xưởng của bà Khương chỉ có khoảng 3, 4 nhân công làm việc, đa phần đều là những người trung niên đã gắn bó với nghề từ thuở nhỏ. Tình hình tương tự cũng diễn ra tại làng nghề sơn mài Hạ Thái. Dù từ đầu làng đến cuối ngõ, tiếng máy móc vẫn vang lên không ngớt, đơn hàng liên tục đổ về, nhưng lực lượng sản xuất chủ yếu vẫn là những người từ độ tuổi 35 trở lên.

nhan-su-tre-lang-nghe-minh-duy-1.jpg
Làm các sản phẩm sơn mài thủ công đòi hỏi sự kiên trì và tỉ mẩn trong từng bước thực hiện, trong khi người lao động trẻ có xu hướng tìm kiếm những công việc trẻ trung hơn, năng động hơn.

Sự nhọc nhằn, đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật cùng yêu cầu cao về sức khỏe khi phải đứng xưởng thời gian dài đã khiến không ít lao động trẻ chùn bước. Để hoàn thiện một bức tranh sơn mài, người thợ phải trải qua một hành trình dài từ làm vóc, hom vải, đánh nền cho đến vẽ, mài và trang trí chi tiết. Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Hồi trầm ngâm chia sẻ: “Làm sơn mài vất vả nhất là ở công đoạn mài mọt, thế nên các bạn trẻ bây giờ chẳng mấy ai mặn mà. Thành ra, những người còn bám trụ và gánh vác nghề hiện nay toàn ở độ tuổi 35 đến 50”.

Thực trạng này thấy rõ nhất tại các xưởng sản xuất. Như tại xưởng gia công Thuận Thiên, công việc của nhân công được xoay ca liên tục từ 7 giờ sáng hôm trước đến tận sáng hôm sau để kịp tiến độ cho hàng loạt công đoạn phức tạp. Chị Ánh, chủ xưởng, bộc bạch: “Người trẻ nhìn vào thấy công việc quá vất vả, đầu việc thì nhiều, làm mãi không hết nên phần lớn đều không có ý định gắn bó lâu dài”.

Áp lực đánh đổi về thời gian, sức khỏe cùng những đòi hỏi nghiêm ngặt về kỹ thuật đang trở thành những rào cản vô hình đẩy người trẻ xa rời với nghề thủ công truyền thống. Trong khi thị trường lại luôn biến động, mang đến những công việc với thu nhập và đãi ngộ có phần dễ thở hơn.

Thế nhưng, sự dịch chuyển của người trẻ không đồng nghĩa với việc họ quay lưng lại với truyền thống, mà là hệ quả tất yếu từ quy luật mưu sinh trong thời đại mới. Một khi nghề truyền thống không còn đảm bảo được sinh kế tối thiểu, bài toán tìm kiếm thế hệ kế nghiệp trở nên vô cùng khó khăn.

Sức ép từ công nghệ và bài toán giá trị trong bối cảnh mới

Trong những năm gần đây, khi công nghệ đang ngày càng phát triển và thị hiếu người tiêu dùng thay đổi, thị trường của những sản phẩm làng nghề ngày càng bị thu hẹp lại.

Nhờ sự tiện lợi và năng suất vượt trội, máy móc dần thay thế con người ở hầu hết các công đoạn sản xuất. Những mặt hàng công nghiệp hoàn thành trong thời gian ngắn, bán với giá thành rẻ mang lại nguồn doanh thu khổng lồ cho doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng tạo ra sức ép cạnh tranh trực tiếp lên các làng nghề truyền thống.

Sự khác biệt lớn nhất giữa máy móc và con người chính là bài toán về thời gian và độ tinh xảo. Nghệ nhân Hoàng Thị Khương chia sẻ, một tác phẩm thêu thủ công luôn đòi hỏi sự tỉ mỉ, kỹ tính, có khi phải mất vài tháng, thậm chí vài năm mới hoàn thiện.

Trong khi đó, các doanh nghiệp lớn chỉ cần đầu tư dàn máy thêu công nghiệp với hàng chục mũi kim dập liên tục là đã có thể cho ra đời hàng loạt thành phẩm trong thời gian ngắn với giá thành thấp hơn rất nhiều. “Thêu thủ công tốn rất nhiều thời gian. Các thợ ở xưởng của tôi có khi làm cả tháng mới xong một bức tranh nền”, bà Khương cho biết.

Thế nhưng, tốc độ của máy móc không thể thay thế được giá trị của tư duy sáng tạo. Những mặt hàng sản xuất công nghiệp dù chuẩn xác về mặt cơ học nhưng lại thiếu đi nét mềm mại, sống động của những đường kim mũi chỉ tự tay con người chăm chút.

nhan-su-tre-lang-nghe-minh-duy-2.jpg
Làm gia công thêu tay tuy có nhiều đổi mới trong sáng tạo về những loại hình sản phẩm mới, nhưng thu nhập chưa thật sự thu hút lao động trẻ trong làng.

Câu chuyện này không chỉ đúng với nghề thêu mà còn là thực tế tại làng sơn mài Hạ Thái. Dù máy móc đã đảm nhiệm phần lớn các công đoạn thô để kịp tiến độ xuất khẩu số lượng lớn, những bước hoàn thiện cuối cùng, nơi quyết định cái “hồn” của sản phẩm vẫn bắt buộc phải qua đôi mắt và bàn tay thẩm định của người thợ lành nghề.

Suy cho cùng, công nghệ càng phát triển thì những giá trị độc quyền do con người tự tay nhào nặn lại càng khẳng định được giá trị riêng biệt và vị thế không thể thay thế.

Chuyển mình để thích ứng trong bối cảnh mới

Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thiếu hụt nguồn nhân lực trẻ không chỉ là thu nhập bấp bênh, mà còn đến từ việc đầu ra của các sản phẩm truyền thống đang ngày càng khó khăn hơn, khi 80% sản phẩm vẫn giữ nguyên mẫu mã cũ.

Trong khi thế hệ trẻ luôn muốn được sáng tạo, thổi hồn của thời đại vào sản phẩm thì những bậc cố hữu thâm niên vẫn muốn giữ gìn hồn cốt của làng với những thiết kế xưa cũ. Sự “vênh nhau” về tư duy ấy đã đặt các làng nghề trước bài toán sống còn về đầu ra, để tự cứu mình, nhiều xưởng sản xuất hiện nay đã chủ động lựa chọn những hướng đi mới nhằm đáp ứng thị hiếu hiện đại của khách hàng.

nhan-su-tre-lang-nghe-minh-duy-9.jpg
Sản phẩm thêu tay đang phải cạnh tranh gay gắt với những sản phẩm thêu máy vốn có lợi thế về cả thời gian thực hiện và chi phí sản xuất.

Tại làng nghề Quất Động nổi tiếng, có những xưởng đã chuyển sang thêu đa dạng hơn các sản phẩm như áo dài, gối... Điển hình như tại xưởng Tú Thị, thay vì chỉ thêu tranh truyền thống như nghề gốc của làng, xưởng đã kết hợp thêu cả tranh lẫn các sản phẩm áo dài thời trang. Trong đó, áo dài thời trang là sản phẩm chủ lực giúp vừa giữ được nghề truyền thống, vừa tạo thêm công việc cho những người thợ tại làng.

Ở làng nghề sơn mài Hạ Thái, các mặt hàng cũng ngày càng đa dạng hơn. Bên cạnh tranh sơn mài truyền thống, nhiều hộ cũng nhận sản xuất bình hoa, khay trà, hộp quà bánh, rương đựng đồ… làm quà tặng lưu niệm theo đơn đặt hàng của khách. “Sản phẩm sơn mài bây giờ đa dạng và mỗi nhà có đặc trưng riêng. Hàng xuất khẩu thường hướng đến sự tối giản, chủ yếu dán bạc hoặc làm tranh in để hạ giá thành, vừa nhanh vừa đáp ứng được số lượng lớn.

Còn thị trường nội địa lại đòi hỏi phân khúc cao cấp hơn. Bán trong nước phải nâng cao tay nghề, làm hàng vẽ tay tỉ mỉ và đa dạng từ tranh ảnh đến đồ ứng dụng, trang trí để hợp gu thẩm mỹ của từng đối tượng khách hàng”, nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Hồi chia sẻ.

nhan-su-tre-lang-nghe-minh-duy-5.jpg
Các mặt hàng thủ công trong thời đại mới buộc phải chuyển mình theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, để đáp ứng nhu cầu của thị trường, từ sản phẩm thực hiện thủ công theo lối kỹ thuật truyền thống cho tới hàng hóa sản xuất đại trà theo hướng công nghiệp.

Các mô hình workshop (lớp học trải nghiệm) cũng dần nhen nhóm tại các làng nghề truyền thống, vừa giúp du khách hiểu sâu hơn về giá trị văn hóa, vừa quảng bá nét đẹp thủ công đến bạn bè trong nước và quốc tế.

Tại làng nghề sơn mài Hạ Thái, những buổi trải nghiệm vẽ tranh sơn mài dưới sự hướng dẫn của các nghệ nhân kỳ cựu vẫn đều đặn diễn ra mỗi ngày. Còn tại làng Quất Động, du khách lại được tự tay đưa những nét chỉ đầu tiên qua các workshop thêu tranh, thêu áo dài độc đáo.

Tuy nhiên, những giải pháp đổi mới trên thực tế mới chỉ giải quyết được phần ngọn của bài toán thương mại, chưa thể xử lý dứt điểm điểm nghẽn cốt lõi về nguồn nhân lực. Thực trạng già hóa lực lượng nghệ nhân và lao động trụ cột đang ngày càng hiển hiện rõ rệt, đặt trong bối cảnh xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề khiến thế hệ trẻ không còn mặn mà với sản xuất thủ công truyền thống.

Điều này khiến các làng nghề rơi vào cái nghịch lý: mô hình dù có tiềm năng mở rộng nhưng lại không có người vận hành lâu dài. Thực tế đó được phản ánh trực diện qua lời chia sẻ của một thợ thêu lâu năm tại xưởng Tú Thị: “Hết lớp người này đi là chẳng còn ai kế tục nữa”.

Cần chính sách đột phá

Việc thiếu bóng người trẻ ở làng nghề truyền thống đòi hỏi địa phương cần có những giải pháp để đào tạo, hướng nghiệp cho người trẻ. Điều này không chỉ giúp thế hệ trẻ tiếp cận, hiểu thêm về giá trị di sản địa phương, mà còn để nuôi dưỡng thế hệ kế nghiệp cho tương lai.

Chia sẻ về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Hồi cho biết: “Trước đây, khi chưa sáp nhập các xã, làng nghề nhận được sự hỗ trợ từ huyện và Sở Công Thương qua các lớp đào tạo ngắn ngày. Các lớp này không phải dạy từ đầu, mà tập trung nâng cao tay nghề cho những người đang trực tiếp sản xuất, từ thợ làm vóc cho đến thợ vẽ. Học trong vòng 3 tháng, mỗi tuần chỉ vài buổi nhưng mang lại hiệu quả cao”.

Dù vậy, hiệu quả thực tế của mô hình này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan từ phía gia đình và các chính sách đồng hành tại địa phương. Trong bối cảnh các doanh nghiệp, nhà máy quanh khu vực đang có lợi thế thu hút lao động nhờ mức thu nhập ổn định ngay từ đầu, việc định hướng cho thế hệ trẻ gắn bó với nghề thủ công đòi hỏi một lộ trình dài hơi hơn. Việc kết nối giữa các cơ sở sản xuất và hệ thống trường học để tổ chức các chương trình hướng nghiệp bài bản sau khi sáp nhập hành chính sẽ là bước đi cần thiết để duy trì tính liên tục cho nguồn nhân lực kế cận của làng nghề.

Khi những nghệ nhân lão luyện dần buông tay khỏi khung cửi, máy mài, sức sống của làng nghề chỉ có thể vẹn nguyên nếu có thế hệ kế cận tiếp bước.

nhan-su-tre-lang-nghe-minh-duy-4.jpg
Những lớp nghệ nhân lớn tuổi vẫn miệt mài giữ nghề, dù trong tâm tư vẫn ngổn ngang về câu chuyện truyền nghề.

Trong dòng chảy biến động hôm nay, các làng nghề buộc phải thay đổi tư duy để thích nghi và tồn tại. Những thế hệ trẻ, mang trong mình hơi thở và tri thức của thời đại, được hy vọng sẽ quay về với làng nghề truyền thống, ứng dụng tri thức của mình để thổi một luồng sinh khí đương đại vào dòng chảy truyền thống.

Một khi thế hệ trẻ nhìn thấy tương lai và vững tin bám nghề, làng nghề truyền thống sẽ tiếp tục phát triển như một thực thể kinh tế-văn hóa năng động và thích ứng với thời đại.

Có thể bạn quan tâm