Những ngày này, dọc Tỉnh lộ 954 qua khu vực chợ Bà Vệ, xã Long Điền, các cơ sở làm tranh kiếng lại tất bật ngày đêm. Thợ vẽ miệt mài bên những tấm kiếng, thương lái đến đặt hàng, nhận tranh mang đi phân phối khắp các tỉnh miền tây.
Ông Nguyễn Thanh Hòa, nghệ nhân hơn nửa đời gắn bó với nghề vẽ tranh kiếng cho hay, nghề này xuất hiện ở cù lao từ khoảng những năm 1950. Ban đầu, các thợ học nghề từ Lái Thiêu, Chợ Lớn rồi về chợ Bà Vệ mở cơ sở. Trong quá trình sáng tác, người thợ có lối sáng tạo riêng mang hồn cốt tranh kiếng phù hợp với tín ngưỡng, văn hóa Nam Bộ. Khác với tranh vẽ thông thường, tranh kiếng phải vẽ ngược ở mặt sau tấm kiếng. Những công đoạn tỉa, tách đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao, tư duy bố cục tốt và sự tỉ mỉ tuyệt đối. Tranh thường lấy màu đỏ làm chủ đạo, với các đề tài quen thuộc như tranh thờ thần Phật, tổ tiên, tranh tích xưa, tranh phong cảnh làng quê… Mỗi bức tranh không chỉ mang giá trị thẩm mỹ mà còn gửi gắm đạo lý, tình yêu quê hương đất nước, tình nghĩa gia đình, tình xóm làng, những giá trị được người dân luôn coi trọng.
Nhớ lại thời hưng thịnh, ông Hòa cho biết có giai đoạn trước Tết, cả xóm nghề làm việc ngày đêm, ghe tàu chở tranh tấp nập trên các tuyến kênh rạch. Tuy nhiên, từ sau năm 2004, do sự cạnh tranh của tranh in công nghiệp và thay đổi không gian nhà ở, số hộ làm tranh kiếng giảm dần, đến nay chỉ khoảng 10 hộ còn bám trụ lại với nghề. Dù vậy, theo ông Hòa, mỗi dịp Tết, tranh kiếng vẫn có chỗ đứng riêng trên thị trường. “Ngày thường tiêu thụ chậm hơn, nhưng cứ gần Tết là đơn đặt hàng tăng rõ rệt. Nhiều gia đình vẫn chọn tranh kiếng treo bàn thờ, treo nhà ngày Tết vì màu sắc tươi, ý nghĩa tốt lành. Tết là thời điểm quan trọng nhất để thợ tranh có thêm thu nhập và giữ được nghề”, ông Hòa chia sẻ. Hiện mỗi tháng cơ sở của ông cung ứng vài trăm bức tranh, riêng mùa Tết xuất ra thị trường khoảng 1.000 bức, giá từ vài trăm nghìn đến hàng chục triệu đồng tùy theo yêu cầu.
Không khí sản xuất Tết cũng lan tỏa mạnh mẽ tại các làng nghề mộc lâu đời như Chợ Thủ và Mỹ Luông thuộc xã Long Điền. Dọc theo đường lộ qua các cơ sở làm mộc luôn vang lên tiếng búa, cưa, đục hòa cùng tiếng máy bào, máy sơn tạo nên âm thanh quen thuộc của mùa làm ăn cuối năm. Làng nghề mộc Chợ Thủ hình thành hơn 200 năm, từng được mệnh danh là “Đệ nhất nghề mộc” vùng Tây Nam Bộ. Sản phẩm nơi đây nổi tiếng với độ tinh xảo, kết hợp hài hòa giữa nét mộc truyền thống và kỹ thuật chạm khắc thủ công. Vào dịp Tết, các cơ sở tập trung sản xuất các mặt hàng có nhu cầu cao như giường, tủ, bàn ghế, đồ thờ, đồ gỗ mỹ nghệ phục vụ trang trí nhà cửa và thờ cúng. Để hoàn thiện một sản phẩm, thợ mộc phải trải qua nhiều công đoạn từ cưa xẻ, bào láng, lấy kích thước, chạm khắc, lắp ráp đến sơn hoàn thiện. Những họa tiết rồng, phượng, hoa sen, hoa mai hay tượng Phật được chăm chút kỹ lưỡng, góp phần tạo nên giá trị thẩm mỹ cho từng sản phẩm.
Theo các thợ làng nghề, dịp cuối năm là thời điểm tiêu thụ mạnh nhất. Ngoài bán lẻ, nhiều cơ sở còn phân phối sỉ cho các tỉnh miền tây, Thành phố Hồ Chí Minh và các khu vực lân cận. Song song đó, các làng nghề mộc từng bước ứng dụng công nghệ, dùng máy móc tăng năng suất, nhưng vẫn giữ những công đoạn chế tác từ đôi tay khéo léo nhằm bảo đảm chất riêng của sản phẩm truyền thống.
Tại cơ sở sản xuất túi xách cỏ bàng Trang Phước Lộc ở xã Ba Chúc của chị Trần Thị Trang những ngày đầu năm 2026, nhân công phải làm hối hả giao hàng cho khách. Chị Trang cho biết, làng nghề đệm bàng gắn liền với địa danh Ba Chúc, các thợ dùng đôi tay đan kết cọng bàng thành chiếc đệm ngủ, giỏ xách tiêu thụ mạnh các miền quê. Nhưng theo thời gian sản phẩm trên không phù hợp với xu hướng mới, sức mua giảm dần. Sau này, lớp trẻ như chị Trang đã cách tân, từ cọng bàng làm thêm các mẫu mã sang trọng, hiện đại, thanh lịch phù hợp với các lứa tuổi như nón kết, nón lá, túi đeo, túi xách, bóp, ví...
Nếu tranh kiếng và đồ gỗ, cỏ bàng gắn với không gian thờ tự, trang trí, vật đeo ngày Tết, thì các làng bánh truyền thống lại mang đến hương vị sum vầy. Tại làng bánh tráng Mỹ Khánh, phường Bình Đức, từ sáng sớm, nhiều gia đình đã đỏ lửa tráng bánh. Bánh tráng mặn dùng cuốn gỏi, chả giò được sản xuất quanh năm, nhưng bánh tráng ngọt, làm từ bột gạo, đường thốt nốt, nước cốt dừa và mè rang tiêu thụ mạnh nhất vào dịp Tết. Sản phẩm thường được mua làm quà biếu hoặc đãi khách ngày Xuân, nên lượng đơn đặt hàng tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba so với ngày thường. Chị Nguyễn Thị Dựa, người có hơn 20 năm gắn bó với nghề làm bánh tráng cho biết, mùa Tết là thời điểm cực nhất trong năm nhưng cũng vui nhất vì lượng tiêu thụ mạnh. “Khoảng một tháng trước Tết là khách bắt đầu đặt bánh tráng ngọt để dành, làm quà biếu. Tôi phải làm gấp đôi so với bình thường mới kịp giao”, chị Dựa chia sẻ.
Về cù lao Phú Tân, thời điểm này, làng bánh phồng Phú Mỹ cũng đang bước vào mùa bận rộn nhất trong năm. Bánh phồng ở đây làm từ nếp vùng Phú Tân, nhờ hương vị đặc trưng và chất lượng ổn định. Nhiều hộ phải tăng năng suất gấp đôi so với ngày thường để kịp đơn hàng. Tương tự, làng bánh phồng mì Ba Chúc cũng sôi động không kém. Nhờ kết hợp máy móc ở một số công đoạn nhưng vẫn giữ bí quyết truyền thống, sản lượng bánh phồng mì tăng mạnh vào những ngày giáp Tết.
Dù đối mặt với sự cạnh tranh từ sản phẩm công nghiệp nhưng mỗi dịp Tết, giá trị mỗi sản phẩm truyền thống vẫn được nhân lên, qua bàn tay chăm chút, nhẫn nại của người thợ nơi làng quê. Từ bức tranh kiếng treo trân trọng trong gian nhà, bộ bàn ghế gỗ mới tinh cho đến những chiếc bánh dùng ăn hay đãi khách ngày Xuân đều góp phần làm nên hương vị Tết vùng Nam Bộ. Không chỉ tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân, các làng nghề còn lưu giữ không gian ký ức, văn hóa ngày Tết truyền thống.