Ký ức về một con đường

Ở bản Trung Ðoàn thuộc Làng Ho (Quảng Bình), nơi mà vào cuối năm 1959 Thượng tá Võ Bẩm quyết định chuyển Ðoàn công tác quân sự đặc biệt từ Khe Hó đến đây, nhiều người già vẫn nhắc tới "bác Bẩm" với tấm lòng kính trọng đặc biệt. Ông Hồ Trác, năm nay 78 tuổi, kể rằng: Thời ấy bộ đội và dân quân mở đường chủ yếu bằng cuốc, xẻng. Trung đội dân quân cơ động của ông làm đủ thứ việc, từ tham gia khảo sát mở đường đến làm đường, vận chuyển quân cụ, lương thực. Có năm, ông Hồ Trác đi cả tháng trời, ông làm đường ở Khe Mó, ở Khe Cau, ở đường 16. Ðến năm 1964 (ông nhớ như vậy vì năm đó vợ chồng ông sinh người con trai đầu lòng) thì máy bay Mỹ bắt đầu ném bom xuống vùng này. Thế là phụ nữ và trẻ em đi sơ tán đến nơi an toàn hơn, nam giới thì ở lại. Ngày đó ô-tô còn ít, với chiếc gùi trên vai, ông Hồ Trác cùng dân quân sang Tây Trường Sơn, lên Cù Bai, Ta Lê... Trong gùi lúc là gạo, lúc là súng đạn. Ði suốt ngày này sang ngày khác, mỗi ngày nghỉ ba lần để ngủ đêm và nấu ăn. Gạo, muối, ruốc bông để ăn dọc đường thì bộ đội cấp, có chuyến bị địch phục kích, bị máy bay ném bom hoặc gặp lũ rừng thì số gạo mang theo ăn dè sẻn cũng hết. Mọi người hái rau rừng, bắt cá dưới suối lấy cái ăn, tìm đường về Làng Ho, rồi đi tiếp chuyến khác.


Ông Hồ Trác.

Ông Hồ Trác làm Trung đội trưởng dân quân ở Làng Ho tổng cộng 16 năm. Sau ngày đất nước thống nhất, ông làm Chủ nhiệm Hợp tác xã, tham gia Hội đồng nhân dân. Nụ cười sảng khoái của cụ già Vân Kiều cao niên như muốn đưa người đối thoại trở về với một thời mà bộ đội, thanh niên xung phong cùng dân quân, du kích các địa phương dọc đường Trường Sơn đã không tiếc công sức, không tiếc máu xương để con đường luôn thông suốt, để đồng bào, chiến sĩ miền nam có lương thực và vũ khí đánh giặc.

Ông Hồ Văn Ðậu, già bản ở Ho Rum, vừa chỉ lên tấm hình chụp trước Lăng Bác Hồ nhân một lần ra thăm Hà Nội, ông vừa kể về những ngày gian khó tham gia làm đường, gùi hàng. Ðó là tháng ngày ông cùng đồng đội vượt qua những con đường mòn quanh co, dốc ngược, để đưa hàng tới Mường Noòng, tới Vít-thù-lù. Ông bảo: Ðường gùi hàng chủ yếu trên đỉnh núi, đi như thế tránh được bom đạn nhưng lại thường xuyên thiếu nước, có hôm phải nhịn uống cả ngày. Lúc đi, trên lưng là gùi hàng nặng nên thời gian trên đường nhiều hơn, lúc về thì nhẹ nhàng, sớm tới nhà. Ông kể về những lần cùng mọi người vượt đèo 1001, đó là nơi cực kỳ vất vả. Ðường đi hiểm trở, mà kẻ thù trút bom đạn suốt ngày. Nhìn già làng nhỏ nhắn, quắc thước đang hồi tưởng lại những ngày cống hiến tuổi xuân cho cuộc kháng chiến, tôi muốn bày tỏ lòng tri ân mà không thể nói thành lời.

Trên con đường Trường Sơn năm xưa, bên hàng vạn, hàng vạn bộ đội và các anh chị thanh niên xung phong, lại có những bà con người Vân Kiều, người Pa Cô hiền hậu, chân chất, đầy nhiệt huyết cách mạng như các ông Hồ Trác, Hồ Văn Ðậu... nữa. Kỳ tích của một con đường đã được làm nên từ những hy sinh lớn lao, nhưng hy sinh lớn lao lại bắt đầu từ những con người rất đỗi bình thường, giản dị. Rồi khi chiến tranh qua đi, họ trở về với cuộc sống hằng ngày, với ngôi nhà sàn nhỏ ven rừng, bắt tay xây dựng cuộc sống mới khi còn không ít khó khăn. Và tôi không thể giấu được sự cảm phục của mình khi biết những người dân quân Vân Kiều quả cảm năm xưa nay lại đảm trách công việc của thôn, của bản, họ tiếp tục đi đầu trong sự nghiệp mới.

Một con đường hiện đại, rộng rãi đã đi qua quê hương thay cho các con đường bí mật, gập ghềnh, gian nan ngày trước. Viết đến đây, lại nhớ đến một câu chuyện tôi gặp trên đường. Ấy là khi qua Cầu Khỉ, một cây cầu bê-tông đồ sộ, uốn vòng bên sườn núi. Hai chữ Cầu Khỉ dễ làm liên tưởng tới cây cầu gỗ tre sơ sài, chênh vênh vắt qua hai bờ suối. Sau thì biết đây là cây cầu mới của con đường mới, còn Cầu Khỉ ngày trước thì nằm ở phía xa xa, gần hẻm núi. Thời chiến tranh, mỗi khi vắng bom đạn, có bầy khỉ từ trong rừng lại ra chạy nhảy, nghịch ngợm trên cầu và Bộ đội Trường Sơn gọi luôn là Cầu Khỉ. Về sau cây cầu bị bom Mỹ phá sập, vết tích còn lại hôm nay là mấy khúc bê-tông đổ ngả nghiêng đầy dây leo, khuất lấp dưới lá rừng, cây rừng cũng che phủ luôn cả con đường nhỏ quanh co tới đầu cầu. Ngắm nhìn mảnh vỡ còn lại của hai chiếc mố cầu, tôi tự hỏi, nơi ấy ngày trước, đã có bao nhiêu người anh, người chị ngã xuống?

Ở bản Cù Bai, tôi gặp già làng Hồ Xừn, năm nay 86 tuổi, là người Pa Cô nhưng ông lại là già làng của bản Vân Kiều. Công tích, đức độ của con người từng đi qua hai cuộc kháng chiến và lại biết làm giàu trong thời bình đã đưa tới cho ông uy tín, sự tin cậy của nhân dân trong bản. Hơn nửa thế kỷ trước, Hồ Xừn đã được đồng chí Hồ Tơ giác ngộ cách mạng và giao nhiệm vụ làm giao liên (Hồ Tơ là một trong những người Vân Kiều đầu tiên theo cách mạng và là đại biểu Quốc hội hai nhiệm kỳ). Trải qua hai cuộc kháng chiến, trí tuệ vẫn còn minh mẫn, sức khỏe vẫn còn dồi dào, ông Hồ Xừn được anh em ở Trạm Biên phòng ví như là "từ điển sống của Cù Bai".

Nếu không gặp ông để nghe tiếng cười sảng khoái, ngắm nhìn dáng đi mạnh mẽ thì khó có thể tin bước chân già làng Hồ Xừn từng in dấu trên khắp dãy Trường Sơn. Bây giờ tuy già rồi, nhưng thi thoảng ông vẫn cùng Bộ đội Biên phòng đi tuần tra qua hết 27 cây số là đoạn đường biên do Ðồn Biên phòng Cù Bai phụ trách, với bảy cột mốc cheo leo trên đỉnh núi. Còn nhỏ thì làm liên lạc, lớn lên vào du kích, rồi ông ra miền bắc học tập. Học xong, Hồ Xừn trở về, làm Ðảng ủy viên Khu Vĩnh Linh kiêm Bí thư Huyện đoàn Hướng Hóa. Sau hơn nửa thế kỷ sống và gắn bó với Trường Sơn, ký ức của ông vẫn không bao giờ phai mờ hình ảnh của những tháng ngày bom đạn mù trời, đêm đêm cả vùng Cù Bai sáng rực lên trong ánh pháo sáng do máy bay Mỹ thả xuống hai đầu và thả giữa thung lũng nhỏ cạnh sông Xê-băng-hiên. Tới hôm nay, ông vẫn không hiểu tại sao vào những ngày khốc liệt ấy, không biết bao nhiêu lần đối mặt với đủ loại kẻ thù, từ biệt kích, thám báo đến máy bay, pháo bầy; có lần nằm giữa bãi bom hơn ba giờ đồng hồ, hết đợt bom này đến đợt bom khác thả xuống, mấy ngày sau vẫn ù tai, mình mẩy ê ẩm mà hầu như ông chưa hề dính một vết thương, ngoài một lần mảnh bom sượt qua làm... rách áo. Ông nói vui với tôi: "Chắc là bom đạn của Mỹ nó sợ mình!". Rồi ông khoát tay chỉ cho tôi biết nơi ngày trước được gọi là "cửa tử", ở nơi đó, mấy chục năm đã trôi qua mà hố bom vẫn còn chi chít. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Cù Bai là một trọng điểm, chung quanh là mấy tuyến đường, lại cách Cổng Trời mấy cây số theo đường chim bay. Ðịch đánh phá đường Trường Sơn ngày càng ác liệt, dân Cù Bai tản cư vào các hang động ven núi, khi bộ đội cần sử dụng hang động làm kho hàng và làm nơi trú quân thì bà con chuyển tới nơi xa hơn.

Ông Hồ Xừn chính là người đã đưa đón, dẫn đường cho các chuyến xe vượt Cổng Trời chuyển học sinh từ miền nam, từ Vĩnh Linh ra bắc. Và ông lặng người khi kể cho tôi nghe về một đêm lên Cổng Trời làm nhiệm vụ, ông đã gặp một chiếc xe tăng bị rơi xuống vực. Các anh bộ đội trên xe đều hy sinh. Giữa đêm tối mịt mùng, dõi theo đoàn tải thương khiêng thi hài các anh đi ngược chiều, ông Hồ Xừn đã khóc. Khóc vì xót thương, khóc vì các anh còn quá trẻ. Ông chẳng bao giờ quên được các anh với chiếc mũ của bộ đội xe tăng trên đầu. Chiếc xe tăng giờ vẫn nằm ngay dưới chân đường đèo, phủ kín cây rừng, mỗi lần đi qua ông đều cúi nhìn thành tâm nhớ đến các anh.

Không rõ chiếc xe tăng mà già làng Hồ Xừn đã kể nằm ở đoạn nào trên đoạn đường qua Cổng Trời, nhưng hôm ở Làng Ho, tôi có nghe bà con Vân Kiều kể rằng cách Cầu Khỉ khoảng năm giờ đi theo suối ngược lên lưng chừng núi, vẫn còn một chiếc xe tăng của bộ đội đã mất nắp, ngó vào trong thấy cả viên đạn trong thùng xe. Thế đó, dọc theo con đường huyền thoại năm xưa, còn bao nhiêu sự kiện, bao nhiêu con người chưa được biết tới, và có thể rồi đây, nhiều điều sẽ chìm khuất dần theo thời gian, khi thế hệ các nhân chứng lịch sử sẽ qua đi. Như khi tới A Lưới (Thừa Thiên - Huế) gặp Anh hùng Hồ Vai, tôi mới biết đầu những năm 60 của thế kỷ trước, ông Hồ Vai đã từng gặp đồng chí Võ Bẩm trên Trường Sơn và cùng trao đổi ý kiến để tìm cách thức phát triển con đường. Ra bắc, ông Hồ Vai đã đến thăm nhà đồng chí Võ Bẩm, suốt bữa cơm trưa hai người chỉ bàn về Trường Sơn... Trên lộ trình dọc theo một đoạn của "con đường huyền thoại" năm xưa, tôi mang theo một tấm bản đồ Hệ thống mạng đường chiến lược Trường Sơn - Ðường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1959 - 1975). Dõi theo không biết bao nhiêu con đường chằng chịt, ngang dọc, nối tiếp nhau, đọc tên không biết bao nhiêu địa danh ngày còn nhỏ, tôi đã nghe nhắc tới trên báo, trên đài, tôi càng hiểu về quá khứ hào hùng của cha anh. Hôm nay, đường Hồ Chí Minh dọc theo Trường Sơn nối liền bắc - nam đã khai thông, mở ra tiền đề để phát triển kinh tế - xã hội của những miền đất chưa được khai thác tiềm năng, tạo điều kiện phát triển đời sống vật chất, tinh thần của hàng triệu con người dọc dãy Trường Sơn. Con đường mới đưa tới tương lai mới và rồi đây có thể những đoạn đường năm xưa sẽ không còn dấu tích trên bản đồ, nhưng dù thế nào thì con đường Trường Sơn huyền thoại vẫn còn sống mãi với lịch sử, và sống mãi với tên tuổi của những người anh hùng đã làm nên kỳ tích có một không hai.

      NGUYỄN HÒA

Có thể bạn quan tâm