Nhớ mãi chuyến đi đầu tiên lên phía bắc Hà Giang. Thử sức lớn với tôi là con đèo Cán Tỷ, dài chừng 15km, cao vút, hiểm trở. Ðèo như trôi trong mây, mặt đường chỉ đủ cho một chiếc xe qua, bên vách núi dựng, bên vực thẳm, chẳng có cọc tiêu biển báo.
Chừng bốn giờ chiều tôi đã đến được Phó Bảng. Càng về chiều càng lạnh, khách đến dự lễ thông đường Ðồng Văn- Lũng Cú và cán bộ sở tại, sau nghi thức xã giao đã vào nhà hết. Dọc những dãy phố trầm u, tĩnh mịch pha sắc mầu hoài cổ, nhưng rất sầm uất, chủ yếu là nhà chình tường đất, lợp ngói âm dương, thấp thoáng bóng người qua lại, áo bông dày hết cỡ.
Sáng hôm sau tôi lên chiếc xe Hải Âu của đội thông tin lưu động sang Ðồng Văn để lên Lũng Cú. Ðến Ma Lé (nơi Ðồn Biên phòng Lũng Cú đứng chân) thì đã xế chiều. Ðường từ Ma Lé vào Lũng Cú phải qua cổng trời Pán Tích cực kỳ hiểm trở. Nhưng chính nơi này bằng nghị lực, mồ hôi, công sức của đồng bào các dân tộc Ðồng Văn mà con đường đã hoàn thành trong vòng 30 ngày. Bà con phải bạt hàng mảnh núi lớn để mở đường, gian lao không tài nào kể xiết. Bí quyết gì mà đoạn Ma Lé - Lũng Cú hoàn thành với nhiều kỷ lục? Chính là sáng kiến chia đường cho từng HTX, rồi HTX lại chia cho từng gia đình, phần đường mà mỗi gia đình đảm nhiệm bằng diện tích một nền nhà chừng 7-10 mét. Ðồng bào các dân tộc hiểu rất rõ lợi ích của con đường đem lại.
Hà Giang- Ðồng Văn- Mèo Vạc, một tuyến đường mà mỗi cảnh đẹp lại gắn liền với chiến công mở đường và không rõ ai đã đặt tên cho con đường này là đường Hạnh Phúc vừa có cái lý, vừa chứa đựng những ý nghĩa sâu xa vượt ra ngoài con đường cụ thể. Quả thật con đường là một khát vọng lớn lao trong tâm khảm của những lớp người đi trước và còn bền vững trong tình cảm của những lớp người sau này...
Từ thị xã Hà Giang đến Ðồng Văn dài 164 cây số. Từ Ðồng Văn vượt qua Mã Pì Lèng 22 cây số - làm trong sáu năm trời như vậy, con đường Hạnh Phúc đã có chiều dài 186 cây số. Các cụ già địa phương từng sống qua nhiều chế độ, kể: Ngày 10-9-1959 toàn tuyến bắt đầu khởi công mở đường Hạnh Phúc. Vì thực dân Pháp trước đây mong muốn có một con đường như thế, nhưng không tài nào làm nổi, nên người Mông sinh nghi ngại. Có người còn khôi hài: Chính phủ mà làm được con đường này thì bò đực ở Ðồng Văn đẻ ra bê con hết. Nhưng con đường thì vẫn không ngừng vươn tới. Ngày 12-3-1965, đoạn cuối cùng Ðồng Văn - Mèo Vạc đã hoàn thành. Lễ khai thông đường thật náo nhiệt, có hàng ngàn người dân về dự, gần 30 chiếc xe hơi lớn nhỏ lăn bánh trên con đường mới. Nhiều người đã lặng đi vì sung sướng. Vậy là đời người Mông sáng rồi, có đường là có tất cả...
Trước đây con đường lên cao nguyên Ðồng Văn là đường ngựa thồ, tải súng đạn, muối và dầu thắp sáng, phục vụ quan lại, thổ ty, chúa đất, thực dân. Biết bao con người đáng thương đã chết gục trên những con đường khổ ải này... Còn phải kể đến con đường buôn thuốc phiện nổi tiếng nhất là Lũng Phìn - cái trạm nhỏ trên con đường vấy máu, tàn ác của bọn lái buôn, tải thuốc phiện từ cao nguyên về xuôi.
Ngày 26-3-1961 Bác Hồ lên thăm Hà Giang. Ngay buổi tối Bác đề nghị cho gặp những người trực tiếp phát tuyến con đường Hạnh Phúc. Do điều kiện của đất nước mà con đường này đến giờ mới được khai mở, lòng Bác bồi hồi, day dứt mãi... Trước lúc rời Hà Giang, Người đã trồng cây hoa đại (trong khuôn viên của UBMT Tổ quốc tỉnh bây giờ) như một sự gửi gắm, động viên những con người nơi đây.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một mét đường Trường Sơn phải gánh chịu năm quả bom lớn nhỏ. Còn một cây số đường Hạnh Phúc là bao nhiêu máu xương, mồ hôi, tiền của. Chi phí cho con đường nhiều bằng 60 năm tiền thuế của cả huyện Ðồng Văn gộp lại. Rồi công sức của hơn một nghìn nam nữ thanh niên sáu tỉnh Cao - Bắc - Lạng - Hà - Tuyên - Thái cùng thanh niên Nam Hà, Thái Bình, Hải Dương và trên 1.000 dân công tại chỗ. Với 186 cây số đường, thì chúng ta đi trên 66 cây số đá xanh, 59 cây số đá sít, 29 cây số đất - nghĩa là phải đào phá 60 vạn thước đá, hai triệu mét khối đất, hai triệu ngày công, 25 tấn mìn... Chỉ duy nhất có một máy khoan đá, còn toàn sức người, không có xe vận tải.
Mấy tháng trước tôi gặp ông Sùng Ðại Dùng tại huyện Ðồng Văn dự hội thảo cuốn "Lịch sử đảng bộ huyện tập I". Ông Dùng người dân tộc Mông năm nay đã ngoài 70 tuổi, nhưng còn khỏe mạnh, nhanh nhẹn và vui tính. Ông nguyên là Chủ tịch UBMTTQ tỉnh Hà Giang. Biết ông là người trực tiếp chỉ huy đại công trường làm đường Hạnh Phúc, tôi lân la bắt chuyện, ông kể: Khi chưa có đường Hạnh Phúc thì gần tám vạn dân vùng cao chưa hề biết ô-tô là gì; cuộc sống của người dân "bán mặt cho đá, bán lưng cho trời" nhưng quanh năm vẫn đói nghèo lam lũ, dân trí thấp, thiếu hiểu biết, nên nhiều hủ tục cũ kỹ, lạc hậu còn tồn tại trong đời sống đồng bào, là vùng đất nhạy cảm nên yếu tố mất ổn định luôn tiềm ẩn... Con đường Hạnh Phúc mở ra, đó là cuộc cách mạng lớn, làm thay đổi sâu sắc từ ý nghĩ, tình cảm đến cách làm ăn mới của người dân cao nguyên. Trầm ngâm đôi chút, như nhớ về kỷ niệm không bao giờ quên, giọng chậm rãi, ông hỏi:
- Theo chú, người Mông trên cao nguyên cần gì nhiều nhất?
- Dạ thưa bác, lương thực, nước uống, học hành của trẻ em, người dân ốm đau được chữa trị.
- Ðúng đấy cái đó rất cần, nhưng để có được những thứ ấy thì phải có đường. Không có đường đi thì sẽ chẳng có gì cả.
Ông kể những ngày tháng gian khổ khi làm con đường Hạnh Phúc, thấm thoát đã hơn 50 năm có lẻ rồi. Ngày ấy công trường bộn bề muôn phần gian khó. Người Mông, người Tày, người Kinh, người Dao, người Nùng... có cả bộ đội ra sức phá đá, bạt núi, mở đường cùng với những dụng cụ hết sức thô sơ như cuốc xẻng, xà beng, búa... cùng sức người trong gần sáu năm trời lao động không nghỉ.
Nhiều lần qua cung đường ấy nên tôi hiểu rất rõ những gian lao thử thách khi mở con đường Hạnh Phúc mà con người phải đối mặt. Thời tiết miền cao khắc nghiệt, nắng thiêu đốt mùa hè, giá buốt mùa đông kéo dài, nhiều mùa đông có tuyết ở Thẩm Mã, Dốc Chín Khoanh, Lán Xì, Phó Bảng... là rét nhất. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau sự khan hiếm nước trở nên gay gắt. Trên đỉnh con đèo Cán Tỷ nhìn thấy dòng sông Tráng Kìm phía dưới, nhưng đi lấy nước mất tám cây số. Lũng Cẩm, Thài Phìn Tủng... không có nước, Sà Phìn phải xuôi về Mậu Duệ (Yên Minh) 40 cây số để lấy nước. Con đường Hạnh Phúc chủ yếu xuyên qua cao nguyên đá Lũng Táo, Sà Phìn, Lũng Hòa... là nơi hiểm trở có nhiều đá nhất. Riêng 40 mét đường ở Lũng Hòa, một đại đội thanh niên của tỉnh Cao Bằng phải bạt nước mở đường mất hơn ba tháng. Ở đoạn Mã Pì Lèng, 22 cây số dốc đứng thẳng 90 độ toàn đá gan trâu, đá mặt quỷ, đục lỗ nổ mìn đến chùn choòng, gẫy choòng, choòng hóc trong lỗ đá... Con người phải treo mình vào vách núi để phá đá, đốt mìn... Công sức đổ ra cho đoạn đèo này thật lớn. Sức vóc, trí tuệ con người vào thời khắc quyết định đã được kết tinh, thăng hoa đến lạ lùng như vậy đấy! Mỗi con đường ở đây mất từ 14 nghìn đến 19 nghìn công, có cây số tốn 33 nghìn công, và phải qua hơn 20 mùa trăng tròn thì đoạn đường này mới xong.
Chợt ông Dùng hào hứng: Vừa rồi một đoàn cựu thanh niên mở đường Hạnh Phúc lên thăm lại con đường lịch sử này. Các thành viên ở nhiều miền quê: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn... tất cả đã vào lớp người cao niên từng trải, hiểu biết nhiều lẽ đời và nhân tình thế thái, nhưng ký ức về con đường năm xưa trong mỗi người thì vẫn y nguyên. Nhiều người đã khóc khi đứng trên đỉnh Mã Pì Lèng, giọt nước mắt tự hào, xen lẫn niềm vui khi biết mình làm được điều gì đó có ích cho địa đầu Tổ quốc, cho đồng bào các dân tộc và đặc biệt là được chứng kiến những đổi thay to lớn của vùng cao Hà Giang.
Hơn 50 năm qua rồi, con đường Hạnh Phúc một thời cuồn cuộn vươn dài trên cao nguyên trùng trùng đá xám. Con đường ấy bây giờ như một dòng sông lặng sóng, đưa con người vào cuộc du ngoạn hùng vĩ, bất tận, tỏa lên sức thanh xuân vạm vỡ và hát mãi về những con người mở đường lên cực bắc Tổ quốc.
Cao Xuân Thái