Không hiểu sao tự dưng Thuận hỏi tôi như vậy. Bờ thì có xa có gần, tùy theo sông rộng hay hẹp chớ. Như con sông Bác-sác này, chúng tôi đã hơn một lần vượt qua. Mà hồi đó, Thuận có bao giờ hỏi tôi gần hay xa đâu. Cái lần đầu tiên là khi trung đội chúng tôi hành quân tới Mẹt-vây thì trời nhá nhem tối. Ðây là thời điểm rất thuận lợi để bố trí đội hình vượt sông, tránh bị địch phát hiện. Vả lại, địa hình vùng này toàn núi đồi rừng rậm, dốc lên xuống khá hiểm trở, chúng tôi chẳng ai rành đường đi nước bước. Chúng tôi biết, hơn bao giờ hết, đây là lúc mọi việc càng phải thận trọng hơn. Khi đó Thuận là trung đội trưởng, hai mươi hai tuổi, dáng nhỏ nhưng nhanh nhẹn, đã tham gia không dưới mười trận trong suốt bốn năm làm nghĩa vụ quốc tế. Anh quê Trà Vinh, một vùng đất bằng phẳng không hề có chút núi rừng nên từ khi qua đây mới bắt đầu làm quen với địa hình vốn quá nhiều phức tạp. Và bọn lính mới như tôi có khác gì anh đâu!
Chúng tôi tháo ba-lô, cởi quần áo, gói buộc cẩn thận vũ khí, đạn dược để vượt sông. Anh Thuận phân công tôi lội trước. Nước sông không chảy xiết nhưng lạnh cóng. Chúng tôi lặng lẽ bơi, ra khỏi bờ độ ba mét thì hụt chân. Anh Thuận thì thào: "Coi chừng mạch ngầm nghen!". Ðoạn sông này tôi chưa từng qua bao giờ, và cũng không thể đoán được khoảng sông này rộng bao nhiêu nữa. Bơi được một đỗi tôi bỗng cảm giác chân mình đạp lên những hòn sỏi cuội. Tiếp đến là ngực tôi tì lên một bệ đá. Mừng quá! Dẫu sao có chỗ nghỉ mệt một chút cũng hay. Tôi quay lại định báo cho Thuận biết thì chợt nghe có tiếng gầm rú từ xa. Rồi pháo sáng bắn dài trên mặt sông, xua tan màn đêm đen kịt. Thuận nhìn sang bờ bên kia, ra lệnh: "Chưa được nửa sông. Không kịp đâu. Kiên, quay lại mau!". Cả trung đội quay lại, tôi bơi sau cùng. Tiếng máy bay ầm ầm xẹt ngang đầu khi tôi đã vào đến bờ và nấp dưới những bụi cỏ dại. Mặt sông trở mình lăn tăn gợn sóng...
Lần thứ hai chúng tôi vượt sông ở đoạn Túc-kha-la, độ chừng nửa đêm. Bốn bề lạnh vắng đến rợn người. Tôi khẽ hỏi: "Chỗ này sâu không anh Thuận?". "Không biết. Nhưng hình như nước chảy xiết lắm thì phải!". Xiết thì chúng tôi cũng phải qua, không vì lý do gì mà trở lại. Ðã là người lính thì phải xông lên, xốc tới chứ chẳng lẽ rút lui à. Lại tháo ba-lô, lại cởi quần áo, lại gói buộc vũ khí, đạn dược cho chuyến vượt sông. Con sông rộng chừng năm mươi mét. Lần này chúng tôi không gặp máy bay, không bị pháo sáng, nhưng tiếc rằng, thằng Tuấn đã không qua đến bờ bên này. Nó bơi sau cùng và bị dòng nước cuốn trôi đi. Tội nghiệp, nó mới nhập ngũ được ba tháng và vừa biên chế về trung đội tôi. Ấy là chúng tôi đoán vậy, chứ sau khi anh Thuận cử người quay lại tìm thì thấy Tuấn vắt nửa người trên bờ bên kia, toàn thân tím bầm. Mọi người đoán Tuấn bị rắn độc cắn nên nó không đủ sức bơi tiếp mà quay lại. Vậy là, với nó, bờ này mãi mãi xa...
Lần thứ ba chúng tôi vượt sông tiến vào giải phóng Phnôm-pênh. Cũng là con sông Bác-sác, nhưng với tốc độ thần tốc nên không có thời gian đoán xem bờ xa hay gần. Rồi sau khi đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn-pốt - Iêng-sa-ry, tiếp quản thủ đô, chúng tôi tiếp tục nhận nhiệm vụ khác. Chủ yếu là giúp nhân dân Cam-pu-chia khôi phục sản xuất, ổn định và xây dựng cuộc sống mới, ít có điều kiện và thời gian để đoán xem bờ xa hay gần. Bây giờ, sau những ba mươi năm, sau những xuôi ngược cơm - áo - gạo - tiền mới có dịp trở lại đứng trên bờ con sông Bác-sác, Thuận lại hỏi tôi như vậy.
- Sao? Mày có thấy bờ xa không? - Anh lặp lại - Nghĩ cũng kỳ, hồi nhỏ nhìn thấy con sông trước cửa nhà chỉ rộng vài chục mét đã thấy xa lắc lơ. Lớn lên chút nữa, khi mình lội qua được thì thấy nó thật gần.
- Vậy anh có thấy bờ sông này xa không?
- Hồi đó thì xa, nhưng bây giờ thì gần. Cũng như cái hồi tụi mình tiến vào giải phóng thủ đô Phnôm-pênh thì đây chỉ là "thành phố chết", có ai ngờ bây giờ nó trở thành thành phố năng động, phát triển nhất nhì trong khu vực. Mày thấy không, hầu như nhà nào cũng có xe bốn chỗ. Ðột nhiên, giọng anh chùng xuống, nghèn nghẹn. Không biết ở nơi xa đó, thằng Tuấn có sang được bờ này chưa?
2. Tiễn chồng vào đại học
Nhận được tin anh đậu đại học sau một tháng khăn gói ra Hà Nội ôn thi, trong lòng chị nhiều nỗi vui - buồn trộn lẫn. Vui vì ước mơ bấy lâu của anh đã thành hiện thực, và nếu như khi cầm bằng tốt nghiệp trong tay thì con đường sự nghiệp của anh cũng xán lạn hơn. Buồn vì từ nay sẽ thiếu vắng anh, chị phải thui thủi một mình chăm sóc hai con. Rồi tiền bạc mấy năm trời để anh ăn học, trong khi lương cấp úy của anh chẳng đáng bao nhiêu so với giá cả thị trường hiện nay. Rồi thu nhập giáo viên của chị liệu có lo nổi cho hai đứa đang tuổi ăn tuổi học không?
Hồi mới nhập ngũ anh chỉ nghĩ ráng làm tròn nhiệm vụ của thanh niên đối với Tổ quốc, sau về mở tiệm chuyên quay phim, chụp hình đám tiệc ở thị trấn là tốt. Ai dè, sau hai tháng tân binh, anh được điều về Ban chính trị trung đoàn phụ trách đài truyền thanh, nhạc báo thức, ngủ nghỉ; trang trí và trực âm thanh hội nghị; chụp hình các hoạt động làm... tư liệu, vân vân. Tóm lại là công việc của anh thợ cờ - đèn - kèn - trống - đóng đinh - leo thang. Lúc đầu hơi bỡ ngỡ nhưng dần dà cũng quen, thậm chí còn hiệu quả hơn đồng chí nhân viên trước đã xuất ngũ. Mặc dù những công việc anh làm không tên nhưng kéo dài quanh năm suốt tháng, và anh mến nó khi nào chẳng rõ. Vì vậy, hết thời hạn phục vụ, thủ trưởng động viên anh chuyển chuyên nghiệp, anh gật đầu cái rụp, quyết định gắn đời mình với binh nghiệp.
Rồi anh gặp chị trong buổi giao lưu văn nghệ giữa đơn vị với trường cao đẳng sư phạm. Lúc đó anh đã chuyển về Phòng chính trị sư đoàn, vẫn làm công việc cũ. Năm năm quen và yêu nhau, nhiều lần chị động viên anh nên đi học để nâng cao nghiệp vụ. Anh có ý định đó chứ. Nhưng công việc, rồi thời gian cứ lần lựa mãi. Lúc thì đơn vị không có chỉ tiêu, lúc khác thì nhu cầu chưa cần thiết. Khi được cử đi học thì gia đình có việc không thể vắng mặt. Vậy là cứ tập trung vào nhiệm vụ và... chờ đợi. Anh cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Mãi đến khi cưới chị rồi anh vẫn chưa có dịp học hành cơ bản gì, ngoại trừ những lớp tập huấn ngắn hạn. Vì vậy, quân hàm của anh cứ chậm trầy chậm trật mà lên. Ðôi khi nhìn đồng đội cùng thời nhập ngũ "đến hẹn lại lên" thêm một sao mà cảm thấy chạnh lòng!
Sáng nay, chị và Bé Hai - con trai lớn, năm nay mười tuổi, đang học lớp bốn - tiễn anh ra ga lên tàu, trong lòng chị vẫn chưa hết rối rắm. Muốn níu giữ anh nhưng chị không thể nói. Muốn chúc anh đi yên tâm học tập mà cũng chẳng nên lời. Chị lúng túng trao cho anh mấy túi đồ rồi đứng yên lặng trên sân ga, ôm con vào lòng, mắt ngân ngấn nước. Phải, chị chưa bao giờ tiễn anh đi xa và lâu như lần này mà!
Chị cứ đứng yên như vậy cho đến khi tàu kéo còi chuyển bánh rời khỏi sân ga. Qua song cửa, chị thấy anh vẫy tay liên tục. Mờ dần. Mất hút. Chị bần thần định quay về thì có ai vỗ vai chị: "Ủa, em đưa ai vậy Thắm?". "À" "ờ" Chị Tư! Em đưa ông xã đi học đại học". "Trời đất, dữ hôn! Nó từng này tuổi mà mới vô đại học hả?". "Dạ, ảnh mới ngoài bốn mươi hà chị". "Thì vậy mới nói. Học xong đại học chắc về hưu luôn chứ làm việc làm cò gì nữa!". Chị ngẩn ngơ. Sao điều này chị không nghĩ tới vậy kìa. Có phải chị thấy niềm hạnh phúc, vui mừng của anh mà quên mất nó. Nếu vậy chẳng lẽ mất công bốn năm dài đằng đẵng sao ta?
Chị hấp tấp kéo Bé Hai vào bưu điện. Chị nhấc máy. Chị bấm số."A lô... Má hả?... Bé Ba thức chưa má?... Má thay đồ cho nó giùm con, con về đưa nó đi học" Dạ, con về liền!".
3. Nhớ bần
"Hoa bần nở tím màu thương nhớ - tím con sông rạch bãi cồn. Dù cho năm tháng đi qua. Dù cho nắng táp mưa sa. Biển khơi sóng vỗ dập dồn, thủy chung bám mãi giữ cồn, giữ cho đời thơm ngát hương quê...".
Hồi nhỏ, tôi thường nghe người ta hát vậy thôi chứ có biết hay ho thế nào đâu. Ðã vậy, tía tôi còn đốn hết mấy cây bần mọc cặp mé sông. Tía nói, bần là bần hàn, bần cùng cơ cực, trước cửa nhà có bần thì làm ăn sao khấm khá nổi. Còn bần mọc chỗ khác như sau nhà, bãi bồi... thì tía nói kệ nó, không ăn thua tới mình. Ðối với bọn trẻ chúng tôi chẳng quan tâm gì chuyện ấy. Có điều, mỗi khi thèm ăn trái bần hay má cần nấu canh chua hoặc làm nước mắm thì không phải ra trước cửa nhà là có!
Ngày ấy chúng tôi hay rủ nhau đi hái trái bần ăn với muối ớt, muối tiêu hoặc mắm đồng. Trái bần tròn như trái quýt nhưng dẹp hơn, mầu xanh rất đậm đà. Vỏ bần mỏng, bóng lưỡng, bên trong đầy những hột cỡ hột mè nằm liền kề nhau. Trái bần còn sống ăn có vị chát, khi chín hơi chua, ngòn ngọt và tỏa ra mùi thơm đặc trưng đến quyến rũ. Bần chín quanh năm suốt tháng, nhất là độ khoảng tháng tư đến tháng mười âm lịch, bần chín rụng trôi đầy mặt sông. Mỗi lần tía đi cắm câu có cá lóc bự, má kêu tôi đi kiếm vài trái bần về làm nước mắm. "Cá lóc nước trui chấm nước mắm bần là khỏi chê...". Tía thường nhậu và khen như vậy.
Cũng hồi nhỏ, bọn tôi vẫn thường chơi trò cô dâu - chú rể. Chúng tôi chặt lá dừa làm mái nhà, lấy lá chuối làm vách như một... tổ uyên ương. Rồi thì, bọn con trai leo lên hái bông bần để cài lên tóc tụi con gái. Bông bần có vô số cánh tròn như tăm tre, trắng nõn nà; phần "ngọn" có hạt phấn long lanh, phần "gốc" phơn phớt tím, gần đài đỏ ao, tiểu nhụy tím rịm... Tất cả được bao bọc bảo vệ bởi những cánh búp xanh thắm, cứng nhưng dễ gãy, tua tủa như sao biển. Một lần, chúng tôi leo lên cây bần hái bông thì bị... bầy ong lá rượt. Ðang ở trên cây không có đường chạy đành nhảy ùm xuống sông, vừa ngoi đầu định lội vô bờ thì bị chúng chặn đầu chích mấy phát, đau nhức quá, khóc hu hu về mét má. Từ đó, má cấm tiệt không được leo bần, dù hái bông hay bẻ trái! Nhiều lúc thèm ăn trái bần nhưng sợ má đánh đòn, đi chợ không thấy ai bày bán, đem thắc mắc hỏi má thì má nói: "Từ xưa tới giờ không ai đem bần đi bán đâu, con!"...
Mang ký ức tuổi thơ hồn nhiên rong ruổi khắp miền khắp chốn, rày đây mai đó, lắm lúc ăn lẩu chua nấu bằng giấm, trái me, trái xoài, trái giác, trái sấu... chợt nhớ trái bần chảy cả nước miếng. Ðôi lúc xách giỏ ra chợ hỏi chị bán rau cải, chị cười: "Em không biết trái bần đâu!". Nghe chị nói mà thấy thương quá loài cây hoang dại mọc tự nhiên hoặc được trồng ở cồn bãi ven sông, ven biển để phòng hộ xoáy mòn, cũng là chống sạt lở nơi đầu ghềnh, cuối bãi! Thương biết bao loài cây dân dã với lớp vỏ bọc xù xì xấu xí mà rễ cứ vươn lên bùn non giữ chặt thân vượt qua mưa nắng thời gian!...
Lần nào có dịp về quê tôi cũng được thưởng thức món canh chua bần, nước mắm bần như thuở nào, lúc trở lại thành phố muốn ăn tìm đỏ con mắt nhưng không chỗ nào bán cả. Mới đây, nghe đồn bà Tư Cúc ở Trà Vinh đã "nghiên cứu, chế biến" được bột bần, mứt bần, kẹo bần... tung ra thị trường tạo thành thương hiệu khá đắt khách. Chủ yếu người ở tỉnh, thành phố mua về để làm quà hay đãi bạn bè, như một kiểu quảng bá, giới thiệu sản phẩm dân dã tưởng bỏ đi nghiễm nhiên trở thành... đặc sản! Bởi lẽ, trái bần hoàn toàn sạch, không hề nhiễm bất cứ hóa chất nào và được xác nhận nó còn có tác dụng ổn định đường huyết, lợi cho tim mạch. Mặt khác, các loại bột bần, mứt bần, kẹo bần được đựng trong keo, hũ, bảo đảm vệ sinh, giá thành chỉ 15 ngàn đồng/250 gam, thời gian sử dụng từ 15 đến 20 ngày, đặc biệt là lạ miệng, ăn một lần chẳng dễ gì quên hương vị thanh tao nơi đầu lưỡi! Và nữa, cây bần có độ tuổi mười năm có thể cho khoảng một tấn trái; và với bạt ngàn bờ bãi, cồn ốc, đê hộ... ở vùng châu thổ Cửu Long thì nguồn nguyên liệu này bao giờ mới cạn kiệt được chứ! Còn nhớ, cách đây không lâu, tôi đã được uống rượu bần bên cù lao Tân Lộc (TP Cần Thơ) do người dân nơi đây chế biến. Một lần thôi, vậy mà mãi đến bây giờ vẫn nhớ mãi dư vị chua chua, ngòn ngọt, cay nồng được chiết xuất từ loại trái cây hoang dại ấy.
Chao ôi! Bây giờ nếu tía tôi còn sống thì có lẽ tía không tin rằng thứ trái mà ai cũng nghĩ rằng sẽ mang lại sự bần hàn, cơ cực trong cuộc mưu sinh giờ đã... lên đời, đã có mặt ngày càng nhiều trong bữa cơm của mọi người từ nông thôn đến thành thị. Dĩ nhiên, nó cũng sẽ làm cho thu nhập kinh tế nhiều gia đình ở quê tôi thay đổi, phát triển thêm lên.
Vâng, đó là "bần". Chỉ đơn giản vậy thôi!