Tôi được biết: ngay sau khi được tin Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô từ trần, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã quyết định cử đoàn sang Cu-ba để trực tiếp chia buồn, bày tỏ tình cảm tiếc thương vô hạn của lãnh đạo và nhân dân Việt Nam đối với Phi-đen. Chuyến đi được gấp rút chuẩn bị. 10 giờ 30 phút ngày 28-11, chuyên cơ cất cánh rời Nội Bài, thậm chí chỉ 15 phút sau khi nhận được cấp phép quá cảnh của nước ngoài cuối cùng. Một chuyến bay lịch sử không chỉ bởi ý nghĩa chính trị đặc biệt mà cả về mặt kỹ thuật: chuyến bay thẳng đầu tiên của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam từ Hà Nội tới La Ha-ba-na. Sau hơn 16 tiếng bay liền không nghỉ, dọc theo bờ biển Nhật Bản, qua Thái Bình Dương và lãnh thổ Hoa Kỳ, máy bay hạ cánh xuống sân bay quốc tế Hô-xê Mác-ti lúc 15 giờ 20 phút, giờ địa phương.
Đoàn ta là đoàn quốc tế đầu tiên đến Cu-ba và cũng là đoàn nước ngoài đầu tiên tới viếng Phi-đen tại khu tưởng niệm Anh hùng dân tộc Hô-xê Mác-ti ngay cạnh Quảng trường Cách mạng cũng mang tên ông. Đúng 17 giờ 45 phút cùng ngày 28-11, Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân dẫn đầu đoàn ta tới đặt vòng hoa, xúc động kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt vị Lãnh tụ kiệt xuất của nhân dân Cu-ba và ghi sổ tang. 19 giờ hôm sau, 29-11, đoàn đại biểu nước ta cùng gần một trăm đoàn đại biểu quốc tế, trong đó hơn 90 đoàn do tổng thống, thủ tướng, chủ tịch quốc hội, lãnh đạo cấp cao nhà nước dẫn đầu, hơn 1.000 phóng viên báo chí nước ngoài và hơn một triệu nhân dân Cu-ba đã tham dự lễ tưởng niệm chính thức Phi-đen cũng tại quảng trường lịch sử này. Trong không khí tràn đầy tiếc thương và xúc động, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã phát biểu, chuyển đến lãnh đạo, nhân dân Cu-ba anh em và đặc biệt là gia quyến Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô lời chia buồn chân thành, sâu sắc nhất của lãnh đạo và toàn thể nhân dân Việt Nam. Buổi lễ tưởng niệm kéo dài bốn tiếng.
Tôi vô cùng xúc động được trở lại Hòn đảo Tự do, hòa vào biển người Cu-ba và bạn bè quốc tế để tiễn biệt, với niềm tiếc thương, mến yêu, kính trọng, biết ơn vô hạn, vị Lãnh tụ vĩ đại của Cách mạng Cu-ba, nhà cách mạng kiệt xuất, người chiến sĩ quốc tế thật trong sáng, hào sảng, một vĩ nhân lỗi lạc, huyền thoại của thế giới trong thế kỷ 20, người bạn chiến đấu và anh em vô cùng thân thiết của Việt Nam, người đã hiến dâng trọn đời cho độc lập, tự do, danh dự, hạnh phúc của nhân dân Cu-ba, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và con người, cho bình đẳng, tự do, bác ái và nhân phẩm chống lại mọi áp bức, bất công trên toàn thế giới, một nhà hùng biện lừng danh, đồng thời cũng là một người thật giản dị, nhân hậu và quần chúng!
Ngồi tại quảng trường lịch sử, lòng quặn đau, trào ngập tiếc thương… trong tâm khảm tôi hiện lên dồn dập biết bao kỷ niệm sâu sắc với Phi-đen. Một vinh hạnh đặc biệt mà tôi đã rất may mắn có được trong đời là trong gần bốn thập kỷ, từ năm 1965 khi còn là sinh viên năm thứ nhất Khoa Văn học - Nghệ thuật, Trường đại học La Ha-ba-na (Cu-ba) tới khi là một cán bộ ngoại giao, rất nhiều lần tôi đã được gặp, tiếp xúc gần gũi với Phi-đen do phiên dịch cho Người với Đại sứ ta ở Cu-ba, với các vị lãnh đạo, các đoàn Việt Nam thăm Cu-ba, nhất là trong chuyến thăm Việt Nam lịch sử của Phi-đen tháng 9-1973… Có lẽ tôi là một trong những người Việt Nam đã có diễm phúc được gặp, gần gũi Phi-đen nhiều nhất!
Lần đầu tôi được gặp Người là khi Phi-đen đến dự chiêu đãi Quốc khánh Việt Nam của Đại sứ quán nước ta tại La Ha-ba-na năm 1965, giữa lúc cuộc chiến đấu chống Mỹ của ta đang diễn ra ác liệt. Ấn tượng về Phi-đen trong cuộc gặp gỡ ấy đã khắc sâu trong tâm khảm tôi. Ông thật gần gũi, thân tình, đặc biệt yêu mến Việt Nam, hỏi cụ thể tình hình cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở miền nam, cũng như chống chiến tranh phá hoại ở miền bắc khi đó.
Rồi giây phút tôi xúc động, sung sướng đến run người khi nghe và dịch cho trưởng đoàn nước ta đang ngồi trên lễ đài câu tuyên bố nổi tiếng của Phi-đen đã đi vào lịch sử: “Vì Việt Nam nhân dân Cu-ba sẵn sàng hiến dâng cả máu mình”, trước tiếng vỗ tay và hô vang dậy “Viva Việt Nam”, “Việt Nam nhất định thắng” của nửa triệu nhân dân Cu-ba tập trung tại quảng trường Cách mạng Hô-xê Mác-ti sáng 2-1-1966 để chào mừng kỷ niệm Cách mạng Cu-ba thắng lợi và chào mừng các đoàn đại biểu Á, Phi, Mỹ la-tinh đến dự Hội nghị đoàn kết ba châu lần thứ nhất do Cu-ba tổ chức.
Cũng ngày đó đúng một năm sau, trong bối cảnh và với những xúc cảm tương tự tại quảng trường lịch sử ấy, nghe và dịch lời tuyên bố dõng dạc của Phi-đen: “Năm nay là Năm Việt Nam anh hùng” (sau cách mạng thành công Cu-ba đều đặt tên cho mỗi năm để thể hiện ý chí, quyết tâm... như “Năm Giải phóng”, “Năm Diệt dốt”, “Năm Cải cách ruộng đất”, “Năm Nỗ lực quyết định”, “Năm Người du kích anh hùng”, “Năm 10 triệu tấn đường”...
Tháng 7-1967, Phi-đen đích thân lái xe đưa Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị, Trưởng đoàn Đảng và Chính phủ ta sang Cu-ba dự kỷ niệm ngày Khởi nghĩa vũ trang 26-7, đi thăm nông trường chăn nuôi bò Pi-ca-đu-ra, chỉ dẫn tỉ mỉ kỹ thuật chăn nuôi bò năng suất cao. Phi-đen nói với Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị: Sau ngày thắng lợi Việt Nam phải phát triển chăn nuôi gia súc để nhân dân Việt Nam được ăn thịt, uống sữa bò, công nghiệp chăn nuôi gà để nhân dân có đủ trứng, thịt…
Khi được tin Bác Hồ mất ngày 2-9-1969, Phi-đen đã đến viếng Bác tại Đại sứ quán nước ta, gương mặt thật sự đau buồn và xúc động. Ông ngồi lại rất lâu để hỏi chuyện về Bác, vô cùng nuối tiếc vì chưa được gặp Bác.
Trong cuộc thăm lịch sử đầu tiên của Phi-đen tới Việt Nam tháng 9-1973, Phi-đen nhất quyết yêu cầu được đi thăm “thủ phủ” của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền nam Việt Nam tại Cam Lộ (Quảng Trị), mặc dù lãnh đạo ta tỏ ý ngần ngại vì lý do an toàn. Ông đã trở thành vị nguyên thủ nước ngoài đầu tiên và duy nhất thăm vùng giải phóng miền nam Việt Nam. Đứng trên đồi 241 còn đầy chiến tích, dáng vóc uy nghi, sừng sững giữa các chiến sĩ giải phóng quây quần chung quanh, Phi-đen đã phất cao lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền nam Việt Nam, giọng dõng dạc: “Các đồng chí hãy đem lá cờ bách chiến bách thắng này cắm giữa Sài Gòn!”. Và chưa đầy hai năm sau, điều đó đã trở thành sự thật.
Dịp đó, Cu-ba đã tặng Việt Nam năm công trình: khách sạn Thắng Lợi, Bệnh viện đa khoa Đồng Hới ở Quảng Bình - để chữa chạy cho các chiến sĩ miền nam, trại bò giống Môn-ca-đa ở Ba Vì, trại gà giống ở Tam Đảo và đường Xuân Mai cùng một khoản ngoại tệ để ta mua thiết bị hiện đại mở rộng đường mòn Hồ Chí Minh, chuẩn bị cho cuộc tổng tiến công mùa xuân 1975.
Rồi tình cảm, sự đón tiếp đặc biệt nồng hậu Phi-đen dành cho Việt Nam, cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong chuyến thăm Cu-ba tháng 3-1974…, cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chuyến thăm, tham dự Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Cu-ba tháng 1-1976…
Và đặc biệt, chiều tối 30-4-1975, ngay sau khi nghe tin nhân dân ta giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, Phi-đen đã đến Đại sứ quán nước ta để chúc mừng. Ông ôm hôn nồng nhiệt Đại sứ Hà Văn Lâu và tất cả cán bộ Đại sứ quán có mặt, như trong một gia đình chứ không theo nghi thức ngoại giao. Ông đặc biệt vui mừng và khẳng định đây không chỉ là thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam mà còn là thắng lợi của nhân dân Cu-ba và toàn thế giới. Ông cho mở một chai rượu rum đặc biệt của Cu-ba đã được cất giữ 70 năm để chúc mừng. Cuộc diễu hành ngày mồng 1 tháng 5 năm ấy tại Quảng trường Cách mạng Hô-xê Mác-ti đã biến thành cuộc diễu hành khổng lồ chào mừng thắng lợi của Việt Nam. Và Phi-đen đã đến tham dự ngay từ đầu, hồ hởi chia sẻ niềm vui thắng lợi của nhân dân ta.
Tháng 9-1979, tôi tháp tùng Thủ tướng Phạm Văn Đồng tới Cu-ba dự Hội nghị cấp cao lần thứ 6 các nước không liên kết, được gặp lại Phi-đen. Ông đã ôm hôn tôi, hỏi chuyện ân cần.
Rồi các dịp được gặp lại Phi-đen khi tôi tháp tùng Chủ tịch nước Lê Đức Anh thăm hữu nghị chính thức Cu-ba tháng 10-1995, khi Phi-đen trở lại thăm Việt Nam lần thứ hai, tháng 12-1995 và thăm Việt Nam lần cuối cùng, tháng 2-2003...
Được trực tiếp chứng kiến nội dung các cuộc hội đàm, trao đổi, trò chuyện… thật cởi mở, chân tình giữa Phi-đen và các vị lãnh đạo, cán bộ và người dân Việt Nam, những thể hiện tình cảm tự nhiên của Phi-đen đối với Việt Nam, đặc biệt trước những sự kiện lịch sử… tôi cảm nhận sâu sắc: tình cảm, sự ủng hộ, đoàn kết và giúp đỡ mà Phi-đen cũng như nhân dân Cu-ba dành cho Việt Nam trong suốt thời kỳ nhân dân ta chiến đấu chống ngoại xâm để giải phóng miền nam, thống nhất đất nước cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau này thật là đặc biệt sâu sắc, nồng hậu, trong sáng, vô tư, có một không hai.
Với riêng cá nhân tôi, tôi mãi mãi nhớ ơn Phi-đen vì tất cả những gì Người đã cho tôi và tôi đã học được từ Người, từ vinh hạnh đã được phục vụ, gặp gỡ, quen biết, kính yêu... Người, từ ngọn lửa lý tưởng cháy bỏng, những tư tưởng uyên bác và nguồn nhiệt huyết bất tận Người đã truyền cho tôi, giúp tôi không ngừng phấn đấu vươn lên, hoàn thiện mình như một công dân, một công chức ngoại giao, một người cộng sản chân chính đã hoàn thành nhiệm vụ và được về hưu hoàn toàn thanh thản!