Nhiều Bộ, ngành còn chậm chạp
Theo Tổng cục Hải quan là Cơ quan Thường trực Ủy ban chỉ đạo quốc gia về NSW, ASW – từ khi triển khai NSW đến cuối tháng 6-2018, mới chỉ có 11 Bộ, ngành kết nối NSW với 53 thủ tục hành chính (TTHC) được thực hiện qua NSW. Đến nay, 1,26 triệu hồ sơ của 22 nghìn doanh nghiệp (DN) được xử lý thông qua NSW. Về ASW, từ ngày 1-1-2018, Việt Nam đã chính thức trao đổi thông tin giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa mẫu D với bốn nước Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái-lan.
Năm 2018, các Bộ, ngành đặt mục tiêu kết nối thêm 143 thủ tục lên NSW nhưng tiến độ triển khai rất chậm chạp. Phần lớn các Bộ, ngành hiện mới đang thống kê, rà soát, đề xuất phương án hoặc đang ở mức dự thảo quy định văn bản pháp luật để thực thi biện pháp cải cách hành chính quản lý chuyên ngành (QLCN); nhiều phương án cắt giảm, đơn giản hóa TTHC chưa đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đề ra và còn mang tính hình thức.
Lý giải nguyên nhân, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Công Bình cho rằng, về pháp lý, trước đây các Bộ, ngành thực hiện theo các chính sách cũ được ban hành từ trước năm 2015 với số lượng chính sách quản lý liên quan tới 36 Luật và 92 Thông tư. Vì vậy, có nhiều quy định chồng chéo, gây khó khăn việc thực hiện kết nối NSW và thủ tục QLCN.
Bên cạnh đó, hành lang pháp lý để chuyển đổi toàn bộ TTHC trong lĩnh vực QLCN sang phương thức điện tử phi giấy tờ vẫn chưa đầy đủ, thiếu cơ chế phối hợp liên ngành để giải quyết các vướng mắc của DN một cách kịp thời, hiệu quả; chưa có cơ chế công nhận sự tham gia của bên thứ ba - các nhà cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng cho DN trong thực hiện TTHC điện tử, tổ chức đánh giá sự phù hợp... Ngoài ra còn có lý do từ việc một số loại hồ sơ, giấy tờ theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử hoặc theo thông lệ quốc tế vẫn chưa được chấp nhận sử dụng dưới hình thức điện tử; nhận thức và tính chủ động của DN trong việc tìm hiểu, chấp hành các quy định về giao dịch điện tử trên NSW chưa cao.
Hơn nữa, hiện tại, chưa có quy định pháp lý về việc công nhận lẫn nhau đối với chứng từ, giấy phép điện tử giữa Việt Nam với các đối tác thương mại trên thế giới nhằm tạo thuận lợi cho hàng hóa xuất khẩu (XK) của Việt Nam cũng như tạo thuận lợi cho giao lưu hàng hóa giữa Việt Nam với các thị trường quốc tế.
Cần quyết liệt hơn, đột phá hơn
Mục tiêu được đặt ra đến hết năm 2020, tất cả các TTHC liên quan quản lý nhà nước đối với hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK), quá cảnh; người và phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh được thực hiện thông qua NSW dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4. Đồng thời, Việt Nam tham gia và triển khai đầy đủ ASW theo đúng cam kết và lộ trình thực hiện của các nước ASEAN; sẵn sàng về mặt kỹ thuật để kết nối và trao đổi thông tin với các đối tác thương mại khác ngoài ASEAN theo các hiệp định và thỏa thuận mà Việt Nam tham gia. Để hoàn thành các mục tiêu này, ông Nguyễn Công Bình cho biết, ưu tiên trước mắt là thiết lập và hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin có khả năng kết nối thông suốt từ Tổng cục Hải quan tới 10 bộ, ngành khác và kết nối từ Việt Nam tới bốn nước trong khối ASEAN (gồm Malaysia, Thái-lan, Singapore, Indonesia).
Đặc biệt, Tổng cục Hải quan sẽ tiếp tục tham mưu cho Bộ Tài chính sớm trình Chính phủ thông qua Nghị định quy định thực hiện thủ tục hành chính theo NSW, ASW và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Đồng thời, trình Thủ tướng Chính phủ kế hoạch hành động thúc đẩy NSW, ASW và tạo thuận lợi thương mại giai đoạn 2018-2020.
Tại Hội nghị “Thúc đẩy cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại” mới đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc yêu cầu, trong thời gian tới phải có một Nghị định và Kế hoạch hành động của Chính phủ thúc đẩy NSW, ASW, tạo thuận lợi thương mại để sớm ban hành. Trong Nghị định và Kế hoạch hành động, phải đề xuất cải cách mang tính đột phá sâu rộng hơn, hiệu quả hơn, thiết thực hơn, đặc biệt trong công tác quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu để tháo gỡ các tồn tại, bất cập, góp phần thúc đẩy xuất nhập khẩu, giao thương quốc tế và khu vực. Đây chính là động lực cho tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh tạo thuận lợi thương mại, cần phải kiểm soát, chống gian lận thương mại, buôn lậu, bảo vệ sức khỏe người dân, kể cả hàng xuất và hàng nhập. Do đó, không thể thiếu chế tài xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm về an toàn thực phẩm, gian lận thương mại.
Đặc biệt, cần chú trọng cắt giảm tối đa những hoạt động kiểm tra không cần thiết trước thông quan. Chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, trên cơ sở áp dụng kiểm soát rủi ro. Đồng thời, phải minh bạch công khai tiêu chí kiểm tra, tiêu chuẩn đánh giá, xã hội hóa hoạt động kiểm tra chuyên ngành với sự tham gia của doanh nghiệp. Mục tiêu là phấn đấu giảm tỷ lệ hàng phải kiểm tra chuyên ngành xuống dưới 15% nhưng vẫn đảm bảo những quy định về quản lý Nhà nước. Rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tục kiểm tra chuyên ngành. Chấm dứt tình trạng có danh mục hàng hóa kiểm tra mà không có đơn vị thực hiện.