Kiềm chế lạm phát: Năm yếu tố đáng quan tâm

Nhìn lại kinh tế thế giới từ năm 1985 trở lại đây, hầu hết các cuộc suy thoái về kinh tế, khủng hoảng cục bộ đều bắt đầu từ sự đổ vỡ của thị trường bất động sản và tài chính, tiền tệ. Năm 1985, ở Singapore khi giá bất động sản lên quá cao, các doanh nghiệp đua nhau đầu tư vào bất động sản làm cho nền kinh tế rơi vào suy thoái, tới năm 1990 mới hồi phục. Năm 1987, giá bất động sản ở Tokyo cao nhất thế giới sau đó hạ nhiệt, đóng băng, kéo theo nền kinh tế Nhật Bản suy thoái trong nhiều năm. Theo các chuyên gia của Nhật Bản, tác động này cho đến tận năm 2006 mới giải quyết được các hậu quả của khủng hoảng bất động sản.

Tháng 2-2006, khi chúng tôi gặp nhau dưới chân tháp truyền hình Tokyo, các vị Thứ trưởng Bộ Kinh tế Công nghiệp (METI) còn nhắc đến cuộc suy thoái này. Năm 1997, cuộc khủng hoảng kinh tế ASEAN bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ sau đó kéo theo khủng hoảng kinh tế. Tình hình suy thoái kinh tế của Hoa Kỳ hiện nay cũng bắt đầu từ khủng hoảng thị trường bất động sản. Chính phủ Hoa Kỳ đã bơm ra hàng trăm tỷ USD để cứu vãn tình thế, FED đã phải quyết định liên tục hạ lãi suất từ hơn 5% xuống còn 2,25%. Việt Nam chúng ta cũng không thể thoát ra ngoài sự vận động này.

Trước tình hình lạm phát tăng cao, Chính phủ ta đã đề ra tám biện pháp để kiềm chế lạm phát, tôi xin nêu ra những yếu tố đáng quan tâm hơn cả trong kiềm chế lạm phát.

Thứ nhất, thắt chặt tín dụng, nhưng không nên phanh quá gấp gây đảo lộn cho nền kinh tế mà phải phanh từ từ. Chúng ta đang từ mức tăng trưởng tín dụng 54% rút xuống ngay 30% khiến lãi suất vay nóng (qua đêm) của liên ngân hàng lên đến 15-30%/năm, ngoài thị trường tự do dân áp dụng 2%/tháng và 24%/năm và cuộc đua lãi suất bắt đầu bùng nổ. Với mức lãi suất này, không một nhà sản xuất, kinh doanh nào có thể chịu đựng nổi một, hai năm. Chúng ta kịp thời ngăn chặn lại, song hậu quả còn để lại nhiều. Không nên áp dụng mức tăng trưởng tín dụng đồng đều giữa các ngân hàng mà phải chia nhóm. Nhóm ngân hàng thanh khoản tốt, nhóm ngân hàng thanh khoản trung bình, nhóm ngân hàng thanh khoản kém để áp dụng các mức tăng trưởng tín dụng cho phù hợp. Chấn chỉnh việc phát hành cổ phiếu của các doanh nghiệp.

Không chỉ doanh nghiệp dưới 10 tỷ đồng vốn, mà cả các doanh nghiệp trung bình và lớn. Phát hành cổ phiếu phải trên cơ sở dự án đầu tư vào sản xuất, kinh doanh chứ không phát hành để đầu cơ thu tiền của các nhà đầu tư rồi quay vòng loanh quanh tăng tính bong bóng và bất ổn của nền kinh tế. Sau cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ năm 1997, Singapore và Thái-lan đã phải áp dụng công nghệ thông tin và quản lý các ngân hàng hằng ngày. Việt Nam chúng ta đang quản lý ngân hàng hằng tháng, dẫn đến việc phát hiện các sai sót trong hệ thống ngân hàng chậm, xử lý không kịp thời.

Thứ hai, phải kiểm soát chặt nhập khẩu. Những mặt hàng trong nước có thể đẩy mạnh sản xuất trước mắt và lâu dài. Chúng ta vừa có nhu cầu lại vừa có nguyên liệu và khả năng phát triển phải ưu tiên vốn và chính sách hỗ trợ phát triển. Thí dụ, mỗi năm  nhập khẩu ngô, đậu tương làm thức ăn gia súc trị giá 500 triệu USD. Tại sao không áp dụng các chính sách WTO cho phép như hỗ trợ giống, cước phí vận tải, khuyến nông để tăng sản lượng? Chúng ta có khả năng sản xuất clanh-ke nhưng đầu tư chậm, cho nên mỗi năm phải nhập khẩu bốn triệu tấn clanh-ke từ Thái-lan? Thế giới đang phát động sử dụng các bao bì bằng cói, bẹ ngô để giảm thiểu rác thải cho môi trường, sao ta không áp dụng để giảm bớt nhập khẩu nhựa PVC...

Rà soát các thị trường nhập siêu lớn, yêu cầu đối tác mở cửa thị trường cho các mặt hàng ta có lợi thế theo nguyên tắc cân bằng thương mại. Tuyên truyền người Việt Nam dùng hàng Việt Nam, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất hàng chất lượng cao bán cho người Việt Nam để giữ vững thị trường.

Thứ ba, phải đẩy mạnh xuất khẩu, tạo thuận lợi từ tỷ giá giữa Việt Nam đồng và ngoại tệ khác là lĩnh vực WTO không cấm. Trung Quốc là nước xuất siêu lớn, nên Mỹ mới ép Trung Quốc nâng giá đồng nhân dân tệ. Còn Việt Nam chúng ta là nước nhập siêu lớn. Cần hỗ trợ mạnh cho xúc tiến thương mại đầu tư và du lịch. Chúng ta đang dành ngân sách quá ít cho xúc tiến thương mại cụ thể là khoảng hơn 100 tỷ đồng chỉ tương đương với kinh phí quảng cáo và tiếp thị một năm của công ty LG?! Các hãng nước ngoài đến nước ta, họ đã lập các văn phòng xúc tiến như Jetro, Kotra. Taitra, các phòng thương mại như Erocham, Amcham... quảng bá, bán hàng rầm rộ, còn ta chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của xúc tiến thương mại, cho nên nặng ngồi quan sát, không đủ kinh phí hoạt động. Trong khi phải cắt kinh phí hỗ trợ trực tiếp cho xuất khẩu, thì lại không đưa vào hỗ trợ gián tiếp qua xúc tiến thương mại.

Thứ tư, tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; tập trung vốn và nguồn lực cho những dự án, công trình cần thiết như giao thông, điện để sớm đưa vào sử dụng. Năm 1997, các nước ASEAN bị khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam ít bị tác động vì lúc đó chúng ta chưa có thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp chưa phát hành cổ phiếu ồ ạt như hiện nay, nền kinh tế lúc đó là nền kinh tế thực.

Thứ năm, tiến trình gia nhập WTO đối với chúng ta mới bắt đầu như bà Birgitta Dalh, Chủ tịch Quốc hội Thụy Ðiển đã cảnh báo: "Thách thức gia nhập WTO của Việt Nam không nhỏ hơn thách thức mà Việt Nam đã vượt qua thời kỳ đổi mới". Thụy Ðiển, một nước công nghiệp phát triển khi gia nhập EU phải mất ba năm mới hòa đồng được với EU. Ðồng thời, chúng ta phải tính đến yếu tố cộng hưởng tác động xấu của thị trường tài chính thế giới vào Việt Nam, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp trước mắt và lâu dài bảo đảm nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững.

Có thể bạn quan tâm