Từ ý tưởng ban đầu
Ông Lâm Văn Bảng, người phụ trách Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị tù đày, tâm sự: Tôi sinh năm 1943, tại chính nơi này. Năm 1965 tôi đi bộ đội rồi vào nam chiến đấu ở chiến trường miền Ðông Nam Bộ. Tháng 5-1968, bị địch bắt trong một trận tập kích vào sân bay Tân Sơn Nhất.
Lúc đó tôi bị thương nặng, pháo dập gãy cả tay, chân. Chập chờn trong cơn mê, tôi còn nhớ mang máng được đồng đội kéo xuống một hố tránh bom. Khi tỉnh lại tôi thấy mình đã nằm trong một trạm quân y dã chiến của địch, toàn thân băng trắng. Rồi chúng giam tôi trong khám Chí Hòa và nhà tù Hố Nai (Biên Hòa). Khi những vết thương lành da thì chúng đày ra nhà tù Phú Quốc.
Và, cuộc sống trong "địa ngục trần gian" ấy của ông bắt đầu từ cuối năm 1968 cho đến tận đầu năm 1973, trao trả tù binh ở sông Thạch Hãn (Quảng Trị) ông mới được trở về. Sau khi phục viên, ông về công tác ở Ðoạn quản lý đường bộ tỉnh Hà Tây. Năm 1985, tình cờ ông phát hiện một quả bom nổ chậm. Sau khi tháo kíp nổ an toàn, ông mang về cơ quan, đặt trên một chiếc bệ xi-măng, bên cạnh đề tấm biển "Cô gái Suối Hai, chàng trai Cầu Giẽ".
Bà con đi qua ai cũng dừng lại xem, anh em trong cơ quan coi đó như một vật quý, và ý tưởng sưu tầm hiện vật chiến tranh nảy sinh trong ông từ đó. Lặng lẽ, trong suốt 20 năm ròng, ông dành trọn số tiền ưu đãi thương binh loại I cho việc sưu tầm hiện vật.
Ðược sự động viên của đại tá Tô Diệu và Ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày ở các nhà tù trong toàn quốc, ông quyết tâm biến ý tưởng ấp ủ gần 20 năm trời thành hiện thực. Mới đầu, ông chỉ trưng bày trong một gian nhà rộng có 16 m2 kề quốc lộ. Sau này, hiện vật ngày một nhiều hơn, khách đến tham quan đông hơn, ông quyết định chuyển gia đình đi ở chỗ khác, dành trọn khu đất rộng 1.600 m2 của gia tộc và ngôi nhà xây hai tầng này làm bảo tàng.
Những hiện vật quý
Thắp nén hương lên lư hương Ðền thờ liệt sĩ, ông Lâm Văn Bảng giới thiệu:
- Ðất và chân hương trong lưhương này tôi đã cất công đi tận Ðền thờ Bác Hồ ở Ðá Chông, Nghĩa trang liệt sĩ ở Ðiện Biên Phủ, thành cổ Quảng Trị, Nghĩa trang Trường Sơn, đền Bến Dược, các nhà tù từ Sơn La, Hỏa Lò, đến Côn Ðảo, Phú Quốc, Buôn Ma Thuột... mỗi nơi xin một ít đưa về đây để khách đến thăm bảo tàng, thắp nén hương tưởng niệm.
Hương hồn các liệt sĩ khắp nơi cùng được hưởng. Ngừng một lát, ông nói tiếp:
- Có chỗ trưng bày, Ban liên lạc trưng tập tất cả những hiện vật mà anh em đã sử dụng khi bị địch tù đày ở khắp các nhà tù trong cả
nước suốt hai cuộc kháng chiến. Vừa dẫn khách đi tham quan, ông vừa giới thiệu:
- Trong hơn 2.000 hiện vật này, có những cái chúng tôi phải cất công đi lại nhiều lần mới sưu tầm được. Chỉ vào bộ dao, bấm móng tay đã cũ gỉ, ông Bảng nghẹn ngào: Bộ bấm móng tay này được coi như là vật gia bảo của gia đình đồng chí Lương Minh Dũng ở Nha Trang (Khánh Hòa). Chúng tôi phải đi lại vào đó tới bốn lần mới xin được gia đình cho đưa về đây trưng bày. Vì trong dòng tộc anh Dũng có tới bốn người đã từng sử dụng chiếc bấm móng tay này trong nhà tù Phú Quốc.
Chiếc bấm móng tay là của bố anh Dũng, bị địch bắt và đày ra Phú Quốc từ những năm địch khủng bố trắng, rồi chú ruột, đến anh và cuối cùng là người em trai, lần lượt bị chúng giam cầm tại đây. Bố và chú anh đã anh dũng hy sinh đến hơi thở cuối cùng trong nhà tù. Kỷ vật duy nhất để lại cho các anh là bộ bấm móng tay này. Trước khi trao cho chúng tôi, anh Dũng đã thắp hương, khấn thầm, xin phép bố và chú cho chúng tôi mang bộ dao bấm ra bắc trưng bày ở đây.
Chỉ sang chiếc tủ kính trưng bày trang trọng lá cờ Ðảng khâu bằng tay đã nhuốm mầu thời gian, ông Bảng nói tiếp: Ðây là lá cờ Ðảng do đồng chí Nguyễn Dư ở Thanh Oai lưu giữ, tôi phải đi lại hơn chục lần mới xin về được. Lần cuối cùng, anh ôm lá cờ trong tay, rưng rưng nói:
- Lá cờ này, chúng tôi đã từng nhiều lần làm lễ kết nạp đảng viên mới và sáng sáng ngước nhìn. Mỗi lần thề trước cờ Ðảng, địch phát hiện chúng lại tra tấn dã man. Có đồng chí sức yếu đã trút hơi thở cuối cùng ngay dưới ngọn roi, dùi cui của chúng. Biết bao máu xương của đồng đội thấm đẫm vào đây. Tổ chức tin tưởng giao cho tôi gìn giữ bấy nhiêu năm trời, sao tôi rời xa được.
- Lá cờ quý thế, anh gìn giữ bao năm, chỉ mình anh và gia đình biết, trân trọng. Anh trao cho tôi, trưng bày, sẽ có nhiều người cùng biết. Ai đã từng bị địch bắt, tù đày thì cùng nhau nhớ lại một thời oanh liệt. Lớp trẻ được hiểu thêm về thế hệ cha anh, khách quốc tế biết thêm về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc vĩ đại của chúng ta... và hương hồn những đồng chí đã anh dũng hy sinh sẽ được mát mẻ nơi chín suối. Tôi nói thế, cả hai anh chị đều khóc, và đồng ý cho tôi đưa về, đặt trang trọng tại nơi này.
Chuyện của những nhân chứng sống
Những ngón đòn tra tấn dã man của địch được tái hiện trong khu Hiện vật và mô hình tra tấn. Ông Kiều Văn Uỵch hiện đang sống tại xã Phúc Tiến (Phú Xuyên, Hà Tây) 58 tuổi, người đã từng bị nhốt trong chuồng cọp gần 20 ngày ở nhà tù Phú Quốc, chỉ vào mô hình chuồng cọp của Bảo tàng, kể: Tôi đi bộ đội năm 1968, một năm sau thì bị địch bắt trong một trận chống càn ở chiến trường Hòa Vang, chúng nhốt ở Ðà Nẵng một tháng rồi đày ra đảo Phú Quốc, ngồi tù cho đến tận lúc trao trả tù binh là ba năm, bốn tháng, bảy ngày. Một lần chúng tôi tổ chức đấu tranh chống lại việc làm hàng rào, biến trại tù thành khu quân sự của chúng. Bị chúng nhốt trong chuồng cọp gần 20 ngày trời. Tôi cao một mét bẩy mươi mà ngồi lom khom trong một cái lồng sắt chằng kín dây thép gai, chiều rộng 80cm, dài 1m cao 70 cm.
Chuồng cọp đặt giữa bãi cát, người tù chỉ được mặc độc chiếc quần đùi. Ban ngày nắng rát như đổ lửa, cát nóng như rang. Ban đêm gió biển lạnh, thỉnh thoảng chúng lại múc nước dội từ đầu xuống, lạnh rùng mình. Mỗi ngày chúng chỉ cho ăn một nắm cơm với muối và một ca nước. Chúng mà phát hiện anh em tiếp tế, lại phạt nặng hơn, bằng ngón đòn gọi là B52 ném bom. Nghĩa là chúng lấy ni-lông đốt cháy cho chảy nhựa xuống đầu và cổ. Da bị nóng cháy, phỏng rộp, bóc từng mảng. Nhiều đồng chí tuổi cao, sức yếu, chỉ sau vài hôm nằm chuồng cọp là cảm thương hàn, rồi hy sinh.
Ông Nguyễn Tiến Long, 62 tuổi, hiện đang sống ở quận Hai Bà Trưng (Hà Nội), không quản đường xa, rời phố phường nhộn nhịp, tuần nào cũng cùng vợ về đây, cùng lau chùi, làm vệ sinh khu Bảo tàng. Ông là trai Hà Nội, hai anh em cùng xung phong nhập ngũ một ngày năm 1968. Ông bị sa vào tay địch trong một trận tấn công vào trận địa pháo Núi Lở (Ðiện Bàn, Quảng Nam) cuối năm 1969 và đày ra đảo Phú Quốc. Trong tù, các ông đã tổ chức vượt ngục nhưng bị lộ, do một kẻ chiêu hồi phản bội... Ðịch đã dùng dùi cui phang vào miệng ông, hắn lấy kìm rút phắt một chiếc răng cửa, máu trào ra! Kẻ phản bội run sợ, lủi mất. Sau đó hắn đã phải đền tội. Những hiện vật ông đóng góp cho Bảo tàng là những chiếc kim khâu, kim châm cứu, kéo cắt tóc... do ông tự tạo trong tù bằng những chiếc cà mèn. Ông nói:
- Người tù cộng sản dù bị tra tấn bằng những cực hình dã man, dù bị đày ải thân mình đến tận cùng của sự cực khổ nhưng vẫn lạc quan. Quần áo, cố gắng vá cho lành, đầu tóc cắt ngắn gọn gàng, đĩnh đạc, địch càng nể phục, khiếp sợ.