Khí phách người cộng sản

Chuyện đồng chí Hoàng Văn Thụ - Thường vụ Trung ương Ðảng đầu những năm 1940 - sau khi bị thực dân Pháp tuyên bố tử hình, viên quan tòa hỏi: "Anh muốn nói gì nữa không?", đồng chí đã trả lời: "Không có gì nói nữa. Trong cuộc đấu tranh sinh tử giữa chúng tôi - những người mất nước, và các ông - những kẻ cướp nước, sự hy sinh của những người như tôi là dĩ nhiên. Chỉ biết rằng cuối cùng chúng tôi sẽ thắng!". Rồi chuyện đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai - Xứ ủy Nam Kỳ cùng những năm ấy, bị thực dân Pháp đưa ra Bà Ðiểm (Hóc Môn) xử bắn, đã không cho kẻ thù bịt mắt, hiên ngang đứng trước 12 họng súng đen ngòm của bọn chúng, và hô vang: "Cách mạng Việt Nam thành công muôn năm"... đã đi vào sử sách, cổ vũ các thế hệ tiếp bước cha anh, phất cao cờ quyết chiến quyết thắng, đi qua mọi cuộc chiến tranh gian khổ, ác liệt để giành lại một đất nước độc lập như ngày nay. Chuyện giữ vững khí tiết của người cộng sản trước những phút hy sinh như thế, chúng tôi nhiều lần được nghe kể...

Nhà sư cách mạng

Tháng 8-1945, trong dòng người đổ về phủ lỵ Nam Sách (Hải Dương) giành chính quyền về tay nhân dân, người ta thấy xuất hiện một chiến sĩ đầu đội mũ ca-nô, mặc áo sơ-mi cộc tay, quần soóc mầu vàng nhạt, dáng cao to, đẹp trai, đôi mắt sáng tinh nhanh, tay cầm một khẩu súng ngắn, chỉ huy đơn vị tự vệ tiến vào thị trấn bắt bọn lính lệ hạ vũ khí, và bắt quan phủ cùng đồng bọn ra trình diện Ủy ban cách mạng. Mọi người nhìn kỹ mới nhận ra đó là nhà sư Võ Quý Tòng (tức sư Quý), bấy lâu làm huyện đội trưởng mà ít người hay biết...

Từ ấy, ông hoạt động công khai, chỉ huy nhiều trận đánh của dân quân du kích địa phương. Trong chiến dịch đường 18 năm 1949, ba huyện Nam Sách, Chí Linh, Kim Thành gọi tắt là "Chí Nam Kinh", sáp nhập làm một và đưa cơ quan về đóng tại thôn Ðậy - thuộc xã Văn Ðức, huyện Chí Linh ngày nay. Cơ quan huyện bị địch phát hiện, chúng tổ chức một lực lượng mạnh, bủa vây, định bắt gọn cả cơ quan đầu não của huyện. Trước tình thế nguy hiểm đó, sư Quý đã nổ súng kéo địch dồn về bên một ngọn núi giáp thôn Ðậy và chiến đấu với chúng, để cơ quan rút đi an toàn. Ông bị thương nặng, bị địch bắt, chúng tra tấn ông rất dã man. Sư Quý đã mắng vào mặt kẻ địch. Chúng đánh gẫy hai hàm răng của ông, vẫn không khai thác được gì, chúng đã bắn chết nhà sư ngay trên ngọn núi vào chiều ngày 24-2-1949...

Trước máy chém quân thù

Một ngày tháng 10-1959, địch xộc vào trại giam Tây Ninh, lôi các chiến sĩ Lê Cơ, Nguyễn Cúc, Võ Văn Tỏ (cùng hoạt động chi bộ nội tuyến trong căn cứ địch Tua Hai), cùng anh Ðào Thanh Huy, Ðặng Hoàng Lân ra còng tay, rồi nhét vào chiếc xe bịt bùng trực sẵn trước cửa khám. Từ trên gác cao, một người quắc thước, song ốm yếu, đứng nhìn theo, vẫy vẫy tay và dặn to: "Hãy giữ vững tinh thần, tương lai đất nước chờ ở các em!...".

Người đứng vẫy tay ấy là đồng chí Hoàng Lệ Kha - Thường vụ Tỉnh ủy Tây Ninh hồi đó. Ông cũng bị Mỹ-Diệm bắt giam ở đây. Ít lâu sau, chúng đưa ông về giam ở khám Chí Hòa, Sài Gòn. Ngày 3-3-1960, Mỹ-Diệm lại dẫn ông về thị xã Tây Ninh, tuyên bố xử tử ông theo Luật 10-59. Ðứng trước máy chém cao 4,5 m, lưỡi dao nặng 50 kg - chiếc máy đã từng được kẻ thù lê khắp miền nam, làm rơi đầu hàng nghìn chiến sĩ yêu nước, đồng chí Hoàng Lệ Kha vô cùng căm giận, ông tiếp tục lên án đế quốc Mỹ xâm lược, bè lũ tay sai bán nước, và thiết tha kêu gọi đồng bào hãy đoàn kết đấu tranh đến thắng lợi cuối cùng...

Xung phong mổ bụng để đấu tranh

Tháng 1-1968, Nguyễn Rồi - người cán bộ của đội công tác huyện Hòa Vang - trong một chuyến công tác về vùng trắng đã bị địch phục kích và bắt sống... Sau khi đưa anh đi hết nhà lao Hội An, Non Nước để tra khảo mà không thu được kết quả gì, địch đày anh ra đảo Phú Quốc. Ở đây, chi bộ Quảng Ðà giao cho anh nhiệm vụ là Bí thư Ðoàn thanh niên, đội trưởng đội quyết tử để làm ngòi nổ trong các cuộc đấu tranh. Tháng 9-1972, các chi bộ quyết định tổ chức lãnh đạo anh em đấu tranh bằng đợt tuyệt thực dài ngày, đòi bọn quản lý trại phải thực hiện 11 yêu sách của tù nhân. Nhiều người đã lả đi vì mệt và đuối sức, nhưng ý chí quyết tâm vẫn nóng bỏng. Ðến ngày thứ bảy, chi bộ quyết định phát động anh em nhà tù xung phong mổ bụng để đấu tranh với kẻ thù. Người tù trung kiên Nguyễn Rồi (khi đó vừa tròn 25 tuổi) đã ghi tên đầu tiên. Trước khi bị bắt, anh đã là đối tượng kết nạp Ðảng, với thử thách này, chi bộ quyết định kết nạp anh vào Ðảng trước

khi thực hiện nhiệm vụ. Một buổi lễ kết  nạp  Ðảng  cũng  là lễ truy điệu được tổ chức trang trọng trong cả chín khu giam của nhà tù. Sau đó anh và hai đồng chí nữa ở các khu giam bên cạnh cùng mổ bụng một lần bằng cán cà-mèn mài sắc. Cả nhà tù Phú Quốc nhốn nháo trong tiếng súng nổ, tiếng la ó của lũ quân cảnh. Vết thương của Rồi rất nặng, đứt một phần ruột. Hai bạn tù cùng mổ với anh là anh Trác ở Bình Ðịnh, anh Phúc ở Thừa Thiên - Huế cũng bị thương nhẹ. Khiếp sợ trước tinh thần đấu tranh của những người tù yêu nước, bọn giám thị trại giam phải chấp nhận 11 điều khoản của ta đưa ra về chống phục dịch, lao công, chống đánh đập, đàn áp, cải thiện chế độ ăn uống, sinh hoạt của tù nhân... Cuộc đấu tranh thắng lợi làm nức lòng hàng nghìn người tù. Nguyễn Rồi được đưa đi cấp cứu và bình phục. Năm 1973, anh được trao trả cùng hàng nghìn tù binh khác sau năm năm chết đi sống lại trong ngục tù đế quốc.

Hy sinh trong tư thế chiến thắng

Anh hùng Châu Văn Biết quê ở xã Long Mỹ (nay là xã Phước Long Hội, huyện Long Ðất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu). Ðội du kích xã do anh chỉ huy đã đánh nhiều trận làm nức lòng quê hương và làm kẻ địch vô cùng run sợ. Ðã có lần chúng gửi thư năn nỉ, xin anh và đội du kích đừng về đánh chúng. Lần khác, chúng treo giải 10 lạng vàng cho ai giết được anh. Thế nhưng, anh và đội du kích xã vẫn ngày đêm "xuất quỷ nhập thần", gây thêm bao nỗi kinh hoàng cho chúng.

Ðánh độc lập, nhỏ lẻ đã giỏi, khi phối hợp với chủ lực, anh cũng rất kiên cường. Ở trận đánh Bàu Ông (tháng 7-1972), anh và ba chiến sĩ nữa được giao lập trận địa cản địch đi càn, để Tiểu đoàn 445 của tỉnh tiêu diệt quân tiếp viện của chúng. Trận đánh không cân sức kéo dài từ 7 giờ sáng đến 11 giờ trưa, anh và ba chiến sĩ vẫn kiên cường chống đỡ, cầm chân được hai đại đội bảo an ngụy. Chúng điên cuồng xả súng và ném lựu đạn về phía tổ du kích, anh và đồng đội lại nhặt những quả lựu đạn đó ném trả lại. Xác địch nằm la liệt chung quanh. Tên chỉ huy tức tối hò hét ra lệnh phải bắt cho kỳ được tên chỉ huy du kích "Xem lá gan của nó đầy ruột hay sao mà lỳ vậy", song chúng vẫn không vượt qua được trận địa của anh. Cùng lúc đó, 60 quả đạn cối của Tiểu đoàn 445 phóng tới hỗ trợ, bọn địch phải bỏ chạy...

Trận đánh cuối cùng của anh là vào sáng ngày 26-3-1973. Anh và đồng chí xã đội phó đang trên đường đi nắm địch thì lọt vào ổ phục kích của chúng. Ngay từ loạt đạn đầu, anh bị thương vào đùi. Khi bắn gần hết đạn, anh ra hiệu cho xã đội phó rút lui để anh ở lại cản địch. Ðịch không dám tới gần, chúng bắc loa gọi hàng. Anh giả vờ đồng ý để dụ địch tới gần, rồi tung một trái lựu đạn vào bọn chúng. Lựu đạn không nổ. Còn trái cuối cùng, anh rút chốt an toàn, gài dây lưng quần và úp người xuống, nằm bất động như đã chết. Bọn địch xô tới, lật ngửa anh lên, lựu đạn nổ tung, thêm hai tên địch nữa bỏ mạng. Châu Văn Biết đã anh dũng hy sinh trong tư thế người chiến thắng. Năm đó, anh mới vừa tròn 22 tuổi...

NGUYỄN PHÚC ẤM

Có thể bạn quan tâm