Những tháng vừa qua, các ngân hàng thi nhau mở thêm nhiều chi nhánh, thêm vào đó là sự bùng phát các công ty kinh doanh chứng khoán đã làm cho nguồn nhân lực này rất khan hiếm.
Từ ngày 1-4-2007, việc các ngân hàng nước ngoài được phép mở chi nhánh 100% vốn tại Việt Nam đã làm cho thị trường lao động trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nóng lên từng ngày, vì đa số đây là nguồn nhân lực có trình độ cao (hầu như tốt nghiệp đại học và trên đại học). Sự dịch chuyển và cạnh tranh nhân sự giữa các ngân hàng là rất lớn. Có thể thấy các ngân hàng thương mại cổ phần đang ráo riết tuyển dụng nguồn nhân lực. EAB tuyển thêm 20 người, GP bank tuyển thêm 500 người, Techcombank tuyển thêm 200 người, Habubank tuyển thêm 400 người, VIB bank tuyển thêm từ 400 - 500 người...
Theo dự báo, nguồn nhân lực cho ngành tài chính ngân hàng sẽ thiếu bởi mỗi năm chỉ có khoảng 2.000 sinh viên ra trường, con số này chỉ đáp ứng được khoảng 40% nhu cầu.
Cũng theo dự báo của các ngành chức năng, năm 2007 nếu Việt Nam đẩy mạnh cải cách hành chính, làn sóng đầu tư nước ngoài có thể lên tới 21 tỷ USD, tăng hai lần so với 2006 (10,2 tỷ USD). Các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tuyển mộ "nhân tài" bản địa bởi ba lý do: Thứ nhất, họ là người am hiểu thị trường, phong tục tập quán; Thứ hai, có mối quan hệ và kinh nghiệm; Thứ ba, phải trả mức lương thấp hơn so với thuê lao động nước khác... Vì vậy, các doanh nghiệp nước ngoài sẵn sàng trả một mức lương hậu hĩnh để lôi kéo "nhân tài" người Việt. Do đó, chắc chắn sẽ có một cuộc "đổi ngôi" nhân lực chất lượng cao giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).
Ðã có những tập đoàn tài chính lớn đầu tư vào Việt Nam sẵn sàng trả tới 5.000 USD cho những chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng người Việt Nam nếu đáp ứng được những nhu cầu công việc của họ. Với mức lương hấp dẫn như vậy, hỏi sao các "nhân tài" không mủi lòng?
Số lượng các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng đáng kể từ đầu năm đến nay, với những tiềm lực tài chính mạnh đã làm xáo trộn các công ty vừa và nhỏ trong nước vì bị "mất" nguồn nhân lực chất lượng cao ở vị trí trọng yếu. Theo quy luật thị trường, nguồn nhân lực chất lượng cao có xu hướng chuyển từ các khu lao động có thu nhập thấp đến các khu lao động có thu nhập cao hơn, thường là các doanh nghiệp FDI với nhiều ưu đãi hấp dẫn.
Theo điều tra mới đây của Bộ Kế hoạch và Ðầu tư, gần 18% số các doanh nghiệp Việt Nam có khó khăn về đào tạo nguồn nhân lực lành nghề, nhân lực trình độ cao, nguyên nhân chính là do các doanh nghiệp thiếu nguồn thông tin về thị trường lao động, chưa tiếp cận một cách hiệu quả với các dịch vụ đào tạo.
Nhiều năm gần đây, Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp đã triển khai rất nhiều khóa đào tạo, hội thảo, hội nghị để nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, kỹ năng lãnh đạo và quản lý cho các doanh nghiệp ở hầu hết các địa phương... Tuy nhiên, có nhiều doanh nghiệp chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng của công tác đào tạo nên không có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ.
Ngược lại, hằng năm số lượng sinh viên tốt nghiệp ra trường hệ từ trung cấp nghề đến đại học rất lớn nhưng không xin được việc, hoặc phải làm trái nghề. Ðiều này cho thấy sự lãng phí nguồn nhân lực do khâu chọn ngành nghề và công tác đào tạo không bài bản.
Sự khan hiếm nguồn nhân lực có trình độ với các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đôi khi khiến họ phải trả giá quá đắt. Ðơn cử tại một nhà máy gia công giày ở Ðồng Nai, mặc dù đang sử dụng tới 20.000 lao động Việt Nam nhưng quỹ lương của cả tập thể lao động này chỉ bằng tổng tiền lương mà doanh nghiệp phải trả cho 70 chuyên gia nước ngoài.
Hay như Nhà máy xi-măng Nghi Sơn (Thanh Hóa), 20 vị trí lao động chủ chốt do người Nhật nắm giữ ngốn một quỹ lương tương đương lương của 2.000 công nhân Việt. Một số dịch vụ ngân hàng, y tế... có tới 40% tổng số lao động có thu nhập cao từ 14.000 USD/năm trở lên thuộc người nước ngoài.
Hiện nay việc "săn" người Việt vào những vị trí quan trọng nhằm giảm chi phí phí đầu vào đang là một khó khăn với nhiều doanh nghiệp. Có lẽ chúng ta không nên chỉ xem lao động giá rẻ là một lợi thế mà chúng ta cứ khai thác mãi. Cần phải coi đây là một hạn chế lớn đối với nền kinh tế nước nhà mà chúng ta phải nhanh chóng khắc phục. Lao động giá rẻ tức là năng suất thấp, kéo theo mức lương trả cho người lao động thấp, đồng thời không đáp ứng xu thế đổi mới, sử dụng công nghệ sản xuất và quản lý ngày càng cao của doanh nghiệp.
Từ thực tế phân tích trên cho thấy Nhà nước cần có một cuộc cải tổ sâu rộng cả về nội dung và hình thức đào tạo nhân lực, cần sớm đầu tư mới, cập nhật trang thiết bị đào tạo và dạy nghề. Có như vậy, chúng ta mới có đủ nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới của thời kỳ hội nhập với nền kinh tế thế giới. Nguồn nhân lực thấp là thiệt thòi của người lao động, các doanh nghiệp phải thuê lao động nơi khác và sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư. Chúng ta đang có trong tay nguồn lao động Việt dồi dào với những chỉ số thông minh, cần cù, chịu khó, vậy tại sao chúng ta không bồi đắp thêm chỉ số kỹ thuật và trình độ cao để thích nghi với thời đại?