Khắc phục tình trạng thiếu nước sinh hoạt ở TP Hồ Chí Minh

Khan hiếm nước sinh hoạt

Ở huyện Cần Giờ, hầu như xã nào cũng còn từ 5 đến 10% số hộ dân chưa được sử dụng nước sạch. Từ đầu năm 2008, hàng trăm hộ dân tại xã An Thới Ðông đã luôn phải sống trong tình trạng thiếu nước sinh hoạt.

Những ngày qua nguồn nước sạch cung cấp cho người dân ở đây được Công ty dịch vụ công ích huyện chuyên chở bằng sà lan và xe bồn từ quận 7, quận 2 (cách xa từ 60 - 70 km) về, bơm vào hệ thống đường ống được lắp đặt tại xã với giá 5.000 đồng/m3.

Ông Huỳnh Dư, ngụ tại ấp Doi Lầu cho biết: Nước ngọt ở đây quý hơn vàng, chỉ "ưu tiên" để uống và nấu ăn, còn tắm giặt và những sinh hoạt khác thì chịu khó dùng... nước mặn vậy! Hôm nào phương tiện chuyên chở trục trặc, hoặc về muộn, không kịp lấy nước, thì đành chịu khát.

Dịp Tết vừa qua, đường ống cấp và chứa nước ở khu vực này không hoạt động, khiến cho hàng trăm hộ khốn đốn vì thiếu nước sinh hoạt. Nhiều hộ phải đi xa hàng km sang xã bên, tìm mua nước ngọt về dùng với giá "cắt cổ" từ 50.000 đến 60.000 đồng/m3.

Tại huyện Nhà Bè, người dân các xã Phú Xuân, Hiệp Phước, Long Kiển, Phước Kiển cũng đang lao đao vì thiếu nước ngọt. Hàng trăm hộ dân sinh sống dọc tuyến đường Huỳnh Tấn Phát, từ chợ Phú Xuân đi Nhà Bè, ngày đêm bức xúc vì thiếu nước sinh hoạt.

Bà Lê Thị Duyên, nhà ở khu phố 5 cho biết: Nhiều hộ đã được đơn vị cấp nước kéo đường ống, lắp đồng hồ đo nước từ giữa năm 2007, nhưng lúc chảy lúc ngừng, nhiều ngày không nhỏ giọt.

Ðể giảm bớt khó khăn cho người dân, Công ty cổ phần cấp nước Nhà Bè phải dùng xe bồn, mỗi ngày chở gần 5.000 m3 nước ngọt xuống khu vực này, cung cấp cho người dân, nhưng mới chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu nước sinh hoạt.

Các khu phố 4, 5, 6 của phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Ðức, tuy ở gần Nhà máy nước Thủ Ðức, nhưng cũng thường xuyên "khát" vì chưa có hoặc chưa hoàn chỉnh đường ống (cấp 1, 2) dẫn nước ngọt xuống các khu phố và nhà dân.

Nhiều khu vực nội thành, nguồn nước sạch cũng không khá hơn, như ở quận 8 có gần 300 hộ sinh sống ở khu phố 5, cuối đường Dương Bá Trạc, phường 1, nhiều ngày qua phải sống trong tâm trạng phấp phỏng vì nước máy lúc có lúc không. Ðể "chữa cháy", mỗi ngày Công ty cổ phần cấp nước Chợ Lớn phải điều động hàng chục chuyến xe bồn chở nước ngọt đến bơm vào các điểm tiếp nước, cung cấp cho nhân dân, nhưng cũng chỉ có những hộ ở gần nguồn nước "hứng" được, còn hộ trong hẻm, cuối nguồn thì... ráng chịu. Không ít hộ đã được công ty cấp nước lắp đặt ống và thay đồng hồ mới, nhưng nhiều khi ban ngày nước không "chịu" chảy, ban đêm đi làm về phải thức mỏi mắt chờ hứng nước mà vẫn không đủ dùng, buộc phải mua nước ngọt của các xe ba bánh từ nơi khác chở đến với giá từ 80 nghìn đến 90 nghìn đồng/m3.

Một lãnh đạo Công ty cấp nước cho biết: Thành phố đang vào mùa khô, nhiệt độ cao, trời nóng nực, nhu cầu nước sinh hoạt tăng cao, cho nên các khu vực cuối nguồn, trong đó có quận 7, 8 và huyện Nhà Bè... sẽ còn tiếp tục thiếu nước ngọt. Dùng xe bồn chở nước cũng chỉ là giải pháp tình thế giảm bớt khó khăn và tốn kém.

Chỉ riêng quận 7 và huyện Nhà Bè, có tháng Công ty cấp nước phải chi gần 600 triệu đồng (chưa tính tiền nước) thuê phương tiện (xe bồn, sà lan) chuyên chở nước ngọt đến cung cấp cho nhân dân với giá thấp, nhưng mới chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu. Chỉ khi nào Nhà máy nước BOO Thủ Ðức và hệ thống ống dẫn hoàn thành đưa vào hoạt động thì khu vực này may ra mới bớt căng thẳng về nước ngọt.

Ðáng buồn là, trong lúc nhiều nơi thiếu nước sinh hoạt như vậy, thì một số công trình, dự án cấp nước ngọt lại chưa được triển khai hoặc đang làm nhưng tiến độ rất chậm. Ðiển hình là Nhà máy nước BOO (xây dựng - vận hành - sở hữu) Thủ Ðức, công suất 300.000 m3 nước/ngày đêm, đã làm xong từ giữa tháng 8-2007, nhưng đến nay vẫn phải nằm chờ, vì hệ thống đường ống dẫn nước từ nhà máy đến nơi tiêu thụ (dài gần 25 km) nhiều đoạn vẫn án binh bất động.

Sản xuất ống nước ở Công ty nhựa Bình Minh
(KCN Sóng Thần).

Tuyến ống dẫn nước chính (cỡ 900 mm và 600 mm) dài hơn 4 km do Tổng công ty cấp nước Sài Gòn (SAWACO) thi công, theo kế hoạch lẽ ra phải hoàn thành cùng với Nhà máy, nhưng đến nay mới xong chưa tới 60% khối lượng công việc và không biết khi nào mới hoàn thành, vì chưa giải quyết xong những vướng mắc phát sinh trong quá trình thi công. Vừa làm vừa chờ giải tỏa di dời, mặt bằng hiện vẫn còn hơn chục hộ tại quận 7 chưa giải tỏa xong để bàn giao. Tương tự tuyến ống nước cấp 1,2 dẫn nước ngọt từ nhà máy tới quận 7 và huyện Nhà Bè theo kế hoạch phải xong vào giữa năm 2008, nhưng đến nay vẫn chưa thấy khởi công. Kết quả là nhà máy xây xong, để đó, trong khi người dân khát nước mong chờ từng ngày và chủ đầu tư phải "è cổ" trả lãi vay ngân hàng gần năm tỷ đồng/tháng.

Ðầu tư tăng nguồn cung cho thị trường

Nhiều năm qua, TP Hồ Chí Minh đã quan tâm đầu tư phát triển nguồn nước sạch, dành hàng nghìn tỷ đồng để sửa chữa, cải tạo và nâng cấp Nhà máy nước Thủ Ðức, xây mới Nhà máy nước Tân Phú (Củ Chi) công suất 320.000 m3/ngày đêm và Nhà máy nước Tân Hiệp (Hóc Môn) giai đoạn 1 công suất 300.000 m3/ngày đêm cùng với hệ thống đường ống dẫn nước. Thay mới và lắp đặt thêm hàng nghìn km đường ống cấp nước các loại.

Ðến nay, toàn bộ mạng lưới cấp nước thành phố có tổng chiều dài hơn 2.000 km đường ống và hơn 500.000 đồng hồ đo nước của khách hàng. Chỉ trong năm 2007, thành phố triển khai thêm bốn dự án cấp nước và xây dựng nguồn nước sạch, nâng công suất cấp nước sạch cho sinh hoạt lên 1,236 triệu m3/ngày đêm. Ðến nay, có 87% số hộ dân thành phố được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước thành phố.

Ðể cải thiện chất lượng nước sinh hoạt, từ tháng 2 đến tháng 8-2008, thành phố triển khai giai đoạn 1 Dự án nghiên cứu, cải thiện nước sạch tại thành phố với kinh phí hơn 70.000 ơ-rô nhằm hợp lý hóa dây chuyền công nghệ xử lý nước tại nhà máy và các trạm xử lý, cải thiện chương trình xúc xả, thông ống, xác định các phương pháp cải tạo mạng lưới cấp nước, khắc phục tình trạng nước đục, kém chất lượng.

Trong lúc chờ đợi Nhà máy nước BOO Thủ Ðức chính thức hoạt động, từ giữa tháng 2, Tổng công ty cấp nước Sài Gòn (SAWACO) đã cho Nhà máy nước Tân Hiệp, Tân Phú, Thủ Ðức chạy hết công suất, đưa tổng lượng nước cung cấp cho nhân dân thành phố mùa khô năm 2008 lên gần 1,3 triệu m3 nước/ngày đêm.

Thực hiện xã hội hóa việc cấp nước, nhiều đơn vị doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước cũng đã tham gia xây dựng nhà máy và mạng lưới cấp nước ngọt. Sau hai năm xây dựng Nhà máy nước BOO Thủ Ðức, công suất 300.000 m3/ngày đêm, do Công ty Cổ phần Boo nước Thủ Ðức làm chủ đầu tư đã xong phần xây dựng nhà máy, chỉ chờ hệ thống đường ống dẫn hoàn thành là đưa vào sử dụng.

Tại huyện Cần Giờ, Công ty TNHH Ðặng Ðoàn Nguyên đã thử nghiệm thành công phương pháp xử lý nước mặn thành nước ngọt. Công ty đang xây dựng nhà máy xử lý nước mặn công suất 300 m3/ngày tại xã Tam Thôn Hiệp. Cuối tháng 3, nhà máy sẽ vận hành, bổ sung cho nhân dân trong huyện lượng nước ngọt đáng kể, góp phần giảm bớt khó khăn về nước sinh hoạt cho hàng trăm hộ.

Tuy nhiên, nhìn chung, tốc độ phát triển nhà máy nước và hệ thống đường dẫn vẫn chưa theo kịp tốc độ đô thị hóa và đà tăng dân số. Nhiều khu vực, nhất là địa bàn các quận, huyện ngoại thành cuối nguồn nước như quận 2, 7, 12, Cần Giờ, Nhà Bè, Hóc Môn, Bình Chánh, Củ Chi... chưa có đường ống và nước sinh hoạt vẫn chưa chảy tới, làm cho hàng vạn người (13% số hộ dân thành phố) chưa được cung cấp nước sạch.

Bình quân nước sạch trên đầu người dân thành phố vẫn còn khiêm tốn, mới chỉ đạt 160 lít/ngày đêm ở nội thành, 60 lít ở ngoại thành, chất lượng nước không phải lúc nào cũng bảo đảm. Tình trạng nước vàng, đục, có mùi hôi... còn xảy ra nhiều lúc, nhiều nơi, gây bức xúc cho người dân.

Ðể nâng cao số lượng và chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch ngày càng cao của người dân, thành phố còn nhiều việc phải làm. Trước mắt, cần tăng thêm phương tiện chuyên chở nước, tiếp tục vận chuyển nước ngọt cho những khu vực cuối nguồn thường xuyên thiếu nước sinh hoạt. Tìm biện pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình, dự án cấp nước, kịp thời thay thế hệ thống đường ống dẫn nước đã cũ và mở rộng mạng lưới lắp đặt thêm đường ống đến các khu đô thị khu dân cư mới hình thành.

Về lâu dài, khẩn trương xây dựng thêm các chương trình, dự án cấp nước mới, nhanh chóng triển khai thực hiện ngay các dự án cấp nước mang tính khả thi, dễ thực hiện. Có chế độ, chính sách ưu đãi, ưu tiên giao đất, vốn vay, hỗ trợ giải tỏa, đền bù, giảm thuế những năm đầu, v.v. để khuyến khích, tạo điều kiện thu hút các thành phần kinh tế cùng tham gia tạo nguồn và cung cấp nước sạch cho nhân dân. Tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, nêu cao ý thức tiết kiệm nước sinh hoạt. Phối hợp các tỉnh, thành phố trong khu vực, xây dựng kế hoạch bảo vệ tránh ô nhiễm nguồn nước ngọt trên sông Ðồng Nai, sông Sài Gòn.

NGUYỄN ĐÌNH KHÁNG

Có thể bạn quan tâm