Trong ngày làm việc đầu tiên của kỳ họp thứ 6, QH khóa XI (ngày 25-10), Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thị Hoài Thu đã trình bày trước QH bản thuyết trình về việc khắc phục một số bất cập về bảo hiểm xã hội, góp phần bảo đảm quyền lợi chính đáng của người lao động. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung bản thuyết trình này.
Chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam đã trải qua một chặng đường dài hơn nửa thế kỷ và có thể chia thành hai thời kỳ chính: Thời kỳ bao cấp trước khi có Bộ luật Lao động, đối tượng tham gia BHXH chỉ giới hạn đối với cán bộ, công nhân, viên chức làm việc trong khu vực Nhà nước và lực lượng vũ trang, nguồn chi BHXH cơ bản từ ngân sách Nhà nước và thời kỳ sau khi có Bộ luật Lao động theo hướng xóa bỏ bao cấp.
Sau Ðại hội lần thứ VI của Ðảng, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước. Trong bối cảnh đó, quan hệ lao động theo cơ chế mới cũng hình thành, người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế được bình đẳng trước pháp luật, thị trường lao động phát triển, người lao động có quyền tự do tìm kiếm việc làm. Thực tế này đòi hỏi phải có những thay đổi tương ứng về chính sách xã hội nói chung và chính sách BHXH nói riêng. Năm 1994, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX đã thông qua Bộ luật Lao động, trong đó có một chương quy định về chính sách BHXH bắt buộc theo nguyên tắc có đóng có hưởng, cân đối thu - chi với năm chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất.
Sau gần 10 năm thực hiện, việc đổi mới chính sách BHXH có nhiều bước tiến quan trọng, thích nghi dần với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Ðối tượng tham gia BHXH được mở rộng đến mọi người lao động thuộc các thành phần kinh tế có hợp đồng lao động từ ba tháng trở lên. Nếu như năm 1996 mới có 2,8 triệu lao động tham gia BHXH bắt buộc thì đến năm 2003 số lao động tham gia BHXH đã lên đến 5,4 triệu người, tăng gần hai lần so với năm 1996.
Nhờ đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức bộ máy, việc chi trả chế độ trợ cấp BHXH cho đối tượng được quản lý chặt chẽ hơn, bảo đảm đúng đối tượng, kịp thời và đầy đủ hơn, về cơ bản không còn tình trạng nợ lương hưu như thời kỳ bao cấp. Quỹ BHXH từ chỗ trước năm 1995 thực chất chỉ tồn tại trên danh nghĩa, đến cuối năm 2003 quỹ đã có số tồn quỹ gần 34.600 tỷ đồng, đây là nguồn tài chính khá lớn, góp phần vào thị trường vốn đầu tư trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Kết quả hoạt động trong thời gian qua của BHXH Việt Nam đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Ðảng và Nhà nước trong việc chuyển đổi chính sách BHXH. Có thể nói rằng chỉ trong gần mười năm đổi mới định hướng BHXH, chính sách và mô hình tổ chức thực hiện BHXH của Việt Nam hiện nay đã được nhiều nước trong khu vực và tổ chức lao động quốc tế đánh giá là có nhiều tiến bộ, đó là nhờ sự chỉ đạo tích cực của Chính phủ, sự cố gắng lớn của Bộ, ngành và của người dân.
Hiện nay ở một số nước trên thế giới, kể cả những nước phát triển, do tình trạng già hóa dân số cùng một số nguyên nhân khác, BHXH đang đứng trước nguy cơ thâm hụt quỹ và phải nghiên cứu để tìm những giải pháp điều chỉnh chính sách. Tại Việt Nam, sau gần mười năm đổi mới định hướng BHXH, đã bộc lộ những hạn chế về chính sách cũng như việc tổ chức thực hiện, vì vậy cần xem xét, điều chỉnh để phù hợp với quá trình phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế.
Mặc dù hiện nay BHXH bắt buộc chỉ liên quan đến một bộ phận người lao động, có thể chưa là nỗi bức xúc của số lao động trẻ, song nó là một chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, thu nhập của người lao động khi về hưu, đến sự ổn định chính trị, kinh tế xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước, ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu của Ðảng và Nhà nước là dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Thực hiện chương trình giám sát năm 2004 của Quốc hội, Ủy ban về các vấn đề xã hội đã thực hiện giám sát, khảo sát tại sáu cơ quan ở Trung ương và 16 tỉnh, thành phố, thu thập ý kiến của bốn Ðoàn đại biểu Quốc hội và nhiều Ðại biểu Quốc hội. Tại kỳ họp này, Ủy ban gửi đến quý vị đại biểu một bản báo cáo chi tiết nhằm cung cấp thông tin về thực trạng BHXH để quý vị làm cơ sở tiếp tục giám sát và chuẩn bị cho việc ban hành Luật BHXH trong thời gian tới. Trong giới hạn thời gian cho phép, Ủy ban về các vấn đề xã hội báo cáo Quốc hội ba vấn đề lớn liên quan chính sách cũng như việc tổ chức thực hiện BHXH cần được xem xét và điều chỉnh.
Vấn đề thứ nhất: Nhiều người sử dụng lao động vi phạm pháp luật về BHXH và hàng triệu người lao động thuộc diện bắt buộc nhưng chưa tham gia BHXH, đặc biệt là ở khu vực ngoài Nhà nước.
Theo quy định của pháp luật, người lao động có quan hệ lao động trong mọi thành phần kinh tế có hợp đồng lao động từ ba tháng trở lên phải tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên, hiện nay còn rất nhiều người sử dụng lao động và người lao động vi phạm quy định của pháp luật về BHXH bắt buộc.
Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LÐ-TBXH), năm 2003 trong số 41 triệu lao động tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh thường xuyên thì có khoảng 9,6 triệu người thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc. Tuy nhiên cơ quan BHXH chỉ nắm được 6,88 triệu người thuộc diện BHXH bắt buộc (bằng 71,6% so với số liệu của Bộ LÐ-TBXH); trong số đó lại chỉ có 5,39 triệu người thực tế tham gia BHXH, bằng 56% so với số liệu thống kê của Bộ LÐ-TBXH. Như vậy hiện còn khoảng hơn bốn triệu người lao động (chiếm 44%) thuộc diện bắt buộc nhưng chưa tham gia BHXH theo luật định. Qua thực tế giám sát, chúng tôi thấy rằng số người lao động không được tham gia BHXH chủ yếu thuộc các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, hợp tác xã, đặc biệt là tổ chức dân lập, tư thục, các tổ chức, cá nhân đăng ký kinh doanh nhỏ, lẻ có thuê lao động; tuy nhiên cũng có một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cũng không đóng BHXH cho nhiều lao động phổ thông.
Mặc dù số lao động quản lý được còn thấp hơn so với quy định, nhưng năm 2003 số lao động tham gia BHXH ở các doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp chỉ mới đạt 42,5% so với số đối tượng BHXH quản lý được. Ðặc biệt tại một số địa phương, tỷ lệ tham gia BHXH của lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nước rất thấp, khoảng 4-9% so với số người bắt buộc tham gia BHXH mà cơ quan BHXH thống kê được. Có doanh nghiệp không tham gia BHXH hoặc tham gia cho số ít người lao động. Gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng thường xuyên phản ánh tình trạng trốn đóng BHXH ở nhiều doanh nghiệp, thí dụ: Xí nghiệp dệt xuất khẩu Hồng Quân - tỉnh Thái Bình, sử dụng khoảng 1.300 lao động hơn 10 năm chưa tham gia BHXH; Công ty liên doanh chế biến thực phẩm Meko - Cần Thơ, sử dụng lao động nhiều năm không tham gia hoặc tham gia không đủ BHXH; Một doanh nghiệp ở Gia Lai vừa nhận Giải thưởng Sao Vàng đất Việt năm 2004, hiện sử dụng thường xuyên 500 lao động nhưng chỉ đóng BHXH cho 40 người ở mức lương 350.000 đồng/tháng...
Bên cạnh việc trốn đóng BHXH, một số không nhỏ doanh nghiệp khu vực ngoài Nhà nước lại chỉ đóng BHXH rất tượng trưng và đối phó bằng cách chỉ đóng BHXH cho người lao động với mức lương thấp, không thực hiện nâng bậc lương thường xuyên mà tăng các khoản chi trả ngoài lương để giảm phần đóng BHXH, thậm chí có doanh nghiệp chỉ đóng BHXH theo mức lương tối thiểu.
Trong khu vực hợp tác xã, dân lập, tư thục, hộ kinh doanh cá thể và các đối tượng khác, tỷ lệ cũng rất thấp, đối tượng tham gia chỉ chiếm khoảng 13% so với số đối tượng BHXH quản lý được, thậm chí có địa phương hầu như không có người tham gia BHXH.
Tình trạng chiếm dụng gây nợ đọng quỹ BHXH cũng khá phổ biến. Theo số liệu kiểm toán Nhà nước, tính đến ngày 31-12-2003 số nợ đọng BHXH cả nước là 579 tỷ đồng, cá biệt ở 1 thành phố số nợ BHXH là hơn 200 tỷ đồng. Chính sự nợ đọng đó đã gây khó khăn và thiệt thòi cho một số người lao động khi giải quyết hưởng chế độ BHXH.
Mặc dù chính sách BHXH là quyền lợi của người lao động được pháp luật bảo vệ, tuy nhiên không ít người sử dụng lao động lại vi phạm pháp luật về BHXH. Ủy ban chúng tôi cho rằng những tồn tại nêu trên do một số nguyên nhân chính như sau:
- Thứ nhất: Có rất nhiều người sử dụng lao động tuy hiểu biết pháp luật, có khả năng tài chính nhưng lại thiếu trách nhiệm, cố tình lách luật và tìm mọi cách để lẩn tránh nghĩa vụ đóng BHXH bắt buộc hoặc chiếm dụng tiền đóng BHXH. Bên cạnh đó có những doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, thua lỗ, không đủ khả năng để đóng BHXH.
- Thứ hai: Công tác quản lý nhà nước về BHXH ở nhiều địa phương thiếu chặt chẽ.
Cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội và cơ quan BHXH chưa xác định được chính xác số lượng người lao động bắt buộc phải tham gia BHXH; Việc phối hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước trong đăng ký hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân với đăng ký quản lý lao động còn thiếu chặt chẽ. Mặc dù luật pháp quy định bắt buộc các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sau khi đăng ký hoạt động kinh doanh phải đăng ký lao động với cơ quan lao động, song rất nhiều doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân không thực hiện quy định này mà cũng không bị xử lý. Cá biệt ở một số địa phương, chính quyền cho rằng BHXH là cơ quan thuộc trung ương nên không thường xuyên quan tâm chỉ đạo.
Theo quy định tại Nghị định số 100/2002/NÐ-CP của Chính phủ, cơ quan BHXH là đơn vị sự nghiệp có nhiệm vụ kiểm tra việc ký kết hợp đồng và việc thu chi BHXH đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động. Tuy nhiên ở hầu hết các địa phương cơ quan BHXH hoạt động mang tính hành chính, chỉ thụ động ngồi chờ các doanh nghiệp, tổ chức đến đăng ký tham gia BHXH. Bên cạnh đó BHXH cũng chưa quan tâm đúng mức đến việc phổ biến, tuyên truyền giải thích chính sách BHXH để người sử dụng lao động và người lao động có đủ thông tin về tính ưu việt của chính sách BHXH, từ đó lôi cuốn họ tham gia BHXH một cách tự giác.
- Thứ ba: Công tác kiểm tra, thanh tra thực hiện chính sách BHXH của cơ quan quản lý Nhà nước chưa thường xuyên, nguyên nhân chính là do thiếu trầm trọng số lượng cán bộ thanh tra lao động và yếu về chất lượng. Tính bình quân hiện nay mỗi tỉnh chỉ có 4 cán bộ thanh tra chính sách lao động - thương binh và xã hội, trong khi đó phải thanh tra, kiểm tra rất nhiều lĩnh vực như an toàn, vệ sinh lao động, lao động, việc làm, tiền lương, tiền công, chính sách người có công, xóa đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội,... Theo tính toán thì ở nhiều tỉnh, thành phố, với số thanh tra viên hiện tại phải mất gần 40 năm mới tiến hành thanh tra lao động ở mỗi doanh nghiệp một lần.
Chế tài xử phạt hành vi vi phạm chính sách BHXH trong nhiều năm qua chưa đủ mạnh cho nên nhiều người sử dụng lao động thà chịu nộp vài triệu đồng tiền phạt còn hơn phải mất vài tỷ đồng để đóng BHXH. Nếu một doanh nghiệp trốn thuế có thể bị truy tố, song khi trốn đóng BHXH hàng tỷ đồng mà thực chất là chiếm đoạt tiền của người lao động mà không bị xử lý nghiêm khắc. Rất đáng mừng là gần đây Chính phủ đã ban hành Nghị định 113/2004/NÐ-CP ngày 16-4-2004 quy định các biện pháp chế tài đủ mạnh và hiện bắt đầu triển khai thực hiện.
- Thứ tư: Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, có chức năng rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động, tuy nhiên tỷ lệ doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tổ chức công đoàn còn rất thấp, khoảng dưới 40%. Một số nơi tuy đã có tổ chức công đoàn nhưng hoạt động lại rất yếu, cán bộ công đoàn do người sử dụng lao động trả lương và sợ mất việc làm nên không dám đấu tranh. Vì vậy, nhiều người sử dụng lao động trốn đóng BHXH hoặc chiếm dụng tiền BHXH của người lao động mà không bị phát hiện, đấu tranh.
- Thứ năm: Do sức ép về việc làm và nhận thức chưa đầy đủ về tính ưu việt của chính sách BHXH và những nguy cơ rủi ro về thu nhập và việc làm trong cơ chế thị trường cho nên không ít người lao động, nhất là lao động từ các vùng nông thôn khó khăn đã không phản đối khi người sử dụng lao động không đóng BHXH cho họ, thậm chí còn có thái độ đồng tình cho rằng mình chỉ lao động trong một thời gian, kiếm một số vốn để rồi tìm việc khác, chưa cần chế độ bảo hiểm và còn được lợi trước mắt là không mất 5% tiền lương đóng BHXH.
- Thứ sáu: Hiện có 128 văn bản hướng dẫn chế độ BHXH từ Bộ Luật, Luật đến công văn của nhiều cơ quan, bộ, ngành ban hành nên rất khó khăn cho cơ quan quản lý, người sử dụng lao động cũng như người lao động hiểu và nắm vững chế độ, cập nhật thông tin để thực hiện đúng quy định.
Vấn đề thứ hai: Mặc dù quỹ BHXH có tăng, song quỹ BHXH hưu trí, tử tuất (gọi tắt là BHXH dài hạn) lại tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối trong tương lai.
Cùng với sự tăng đối tượng tham gia BHXH và điều chỉnh tăng tiền lương, số thu quỹ BHXH hằng năm cũng tăng khá nhanh. Nếu như năm 1996, tổng số thu quỹ BHXH là 2.570 tỷ đồng thì đến năm 2003 số thu là 9.620 tỷ đồng, tăng gần 4 lần so với năm 1996 và đến 31-12-2003 quỹ BHXH có số tồn quỹ gần 35.000 tỷ đồng.
Theo quy định về BHXH, kinh phí chi trả cho người nghỉ hưu, nghỉ mất sức và tiền tuất từ trước tháng 10-1995 do ngân sách Nhà nước bảo đảm, còn quỹ BHXH phải chi trả lương hưu và các loại trợ cấp BHXH cho các đối tượng nghỉ hưởng chế độ hưu, mất sức và tử tuất từ 1-10-1995 về sau. Về mặt nguyên tắc, thì sau 15 năm kể từ năm 1995 mới có đối tượng hưởng chế độ hưu và tử tuất đầu tiên, nhưng thực tế ngay sau khi tách ra khỏi ngân sách, quỹ BHXH đã phải chi trả chế độ hưu và tiền tuất và số chi này ngày càng tăng cao.
Năm 2002, quỹ BHXH đã phải chi trả lương hưu và trợ cấp cho 244.467 đối tượng, đến năm 2003 đối tượng hưởng trợ cấp do quỹ BHXH chi trả đã là 304.757 người, tăng 24,7% so với năm 2002. Mức hưởng BHXH bình quân hằng năm cũng đang tăng khá nhanh, năm 2003 so với năm 2002 tăng 23,3%. Tỷ trọng kinh phí do quỹ BHXH chi trả so với tổng số quỹ thu được hằng năm ngày càng tăng, năm 2002 chiếm 37,1% và đến năm 2003 đã chiếm 39,4%. Mặc dù đang có số tồn quỹ BHXH là khá lớn, khoảng gần 35.000 tỷ đồng nhưng với tỷ trọng thu-chi như hiện tại sẽ sớm dẫn đến khả năng nguồn thu chỉ đủ chi hằng năm và dần dần sẽ mất cân đối thu - chi vào các năm sau.
Theo tính toán của một số chuyên gia tài chính bảo hiểm và kết quả dự báo cân đối quỹ hưu trí và tuất theo phương pháp tổng chung (thu của người đang làm việc trả cho người về hưu), với tốc độ điều chỉnh tăng chi BHXH gắn với tiền lương như hiện nay, nếu không có những thay đổi về chế độ thu, chi BHXH hợp lý và đầu tư bảo toàn, tăng trưởng quỹ có hiệu quả cao thì đến khoảng năm 2030 quỹ BHXH sẽ mất cân đối.
Nguy cơ mất cân đối quỹ BHXH do các nguyên nhân cơ bản sau:
- Một: Chính sách BHXH ở nước ta đã thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện một số chính sách xã hội trong giai đoạn chuyển đổi.
Việc quy định mức đóng bằng 15% quỹ lương và sau 30 năm làm việc sẽ được hưởng 75% mức lương bình quân của 5 năm đóng BHXH trước khi nghỉ hưu, nếu xét về khía cạnh kinh tế là chưa phù hợp. Bởi nếu một người lao động đóng BHXH trong suốt 30 năm thì số tiền đóng góp của người đó, kể cả ước tính tăng trưởng là 6%/năm, cũng chỉ đủ chi lương hưu cho bản thân người đó được khoảng 6-8 năm. Trong khi đó bình quân số năm hưởng lương hưu khoảng 15 năm. Quy định tỷ lệ đóng hưởng trên đáp ứng được yêu cầu thực tế trong giai đoạn chuyển đổi nhưng ảnh hưởng đến khả năng cân đối lâu dài của quỹ BHXH. Hiện nay việc mở rộng và tăng đối tượng tham gia BHXH sẽ tăng nguồn thu song cũng sẽ đồng nghĩa với tình trạng 15 năm tới số lượng đối tượng được hưởng và số tiền chi trả BHXH tăng lên, như vậy có thể kéo dài thời gian mất cân đối quỹ, nhưng khi đã mất cân đối thì tình hình sẽ rất nghiêm trọng.
Trong những năm qua do việc thực hiện một số chính sách xã hội như: giảm tuổi nghỉ hưu cho một số đối tượng lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, nơi có nhiều khó khăn; tinh giản biên chế khu vực hành chính sự nghiệp, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước, cho về hưu trước tuổi một số đối tượng, bình quân tuổi nghỉ hưu từ năm 1995 đến nay chỉ là 51,5 tuổi và một số chính sách xã hội khác đã làm giảm nguồn thu và tăng chi trả từ quỹ BHXH.
Ðể giải quyết bất cập trên, trong tương lai sẽ cần phải từng bước điều chỉnh lại tỷ lệ đóng hưởng BHXH cũng như tuổi nghỉ hưu cho phù hợp trên cơ sở cân nhắc các khía cạnh xã hội và kinh tế.
- Hai: Năm 1995, quỹ BHXH tách ra khỏi ngân sách, tự hạch toán cân đối thu - chi, tuy nhiên có khoảng 2,9 triệu cán bộ, công nhân, công chức trong khu vực Nhà nước đã tham gia BHXH theo cơ chế cũ được bình quân hơn 14 năm, nhưng thực tế chưa có nguồn bổ sung, vì vậy hiện tại vẫn phải dùng quỹ BHXH để chi trả mà lẽ ra trách nhiệm đó thuộc về Nhà nước, ước tính số tiền này vài chục nghìn tỷ đồng.
- Ba: Một vấn đề quan trọng trong việc bảo đảm cân đối thu chi của quỹ BHXH là bảo tồn và tăng trưởng quỹ, song hiện tại quỹ BHXH nhàn rỗi, năm 2002 là 25.507 tỷ đồng, năm 2003 là gần 35.000 tỷ đồng, lại chưa được đầu tư vào những dự án mang lại hiệu quả cao, ít rủi ro, mà chủ yếu cho ngân sách Nhà nước vay hoặc mua công trái, trái phiếu nên lãi thu được không nhiều. Năm 2002 thu lãi 1.606 tỷ đồng (tỷ lệ lãi suất 7,3%/năm), năm 2003 thu lãi 1.911 tỷ đồng (tỷ lệ lãi suất là 6,6%/năm). Nếu trừ chỉ số giá tiêu dùng tăng hằng năm (năm 2002: 4%, năm 2003: 3%) thì tốc độ tăng trưởng quỹ chỉ còn 3,3% trong năm 2002 và 3,6% trong năm 2003. Mức tăng này là quá thấp so với tính toán, hoạch định chính sách ban đầu (năm 1991) là 10% - 12%/năm. Nếu như năm 2004 chỉ số giá tiêu dùng tăng 10% thì quỹ BHXH không còn tỷ lệ tăng trưởng.
- Bốn: Trong khi việc đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ còn hạn chế thì các khoản chi cho hoạt động của cơ quan BHXH cũng chiếm tỷ lệ đáng kể so với tổng thu BHXH. Trước năm 2002 cơ quan BHXH được trích 6% tổng quỹ BHXH thu được hằng năm làm nguồn kinh phí hoạt động và một phần được lấy từ đầu tư bảo toàn và tăng trưởng quỹ để xây dựng trụ sở. Từ năm 2002 được trích bằng 4% tổng quỹ BHXH thu được hằng năm lấy từ nguồn lãi đầu tư bảo toàn và tăng trưởng quỹ để làm kinh phí hoạt động.
Với tỷ lệ tăng trưởng quỹ nói trên, nếu trừ đi chi phí thường xuyên của bộ máy BHXH (không tính kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, sửa chữa lớn, mua sắm tài sản cố định và 2 quỹ khen thưởng, phúc lợi) của năm 2002 là trên 260 tỷ đồng (hơn 15% số lãi thu được qua đầu tư), năm 2003 là hơn 466 tỷ đồng (24% số lãi thu được qua đầu tư) thì tốc độ tăng trưởng của quỹ bình quân chỉ còn khoảng 2%/năm. Như vậy có thể khẳng định rằng quỹ BHXH thực sự mới chỉ được bảo toàn, còn tăng trưởng chưa đáng kể.
Vấn đề thứ ba: Trong khi quỹ BHXH dài hạn có nguy cơ mất cân đối thu - chi, thì quỹ BHXH ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (gọi tắt là BHXH ngắn hạn) lại kết dư khá cao.
Theo quy định quỹ BHXH ngắn hạn được hình thành từ nguồn thu bằng 5% tổng quỹ tiền lương. Trước năm 2001, quỹ BHXH ngắn hạn kết dư mỗi năm khoảng 70% tổng số thu. Từ năm 2001, mặc dù Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 37/2001/QÐ-TTg bổ sung chế độ nghỉ dưỡng sức cho người lao động lấy từ quỹ BHXH ngắn hạn, song quỹ vẫn tiếp tục kết dư lớn.
Qua giám sát, nghiên cứu, khảo sát cho thấy chỉ 2 năm 2002 và 2003 quỹ kết dư đã là 2.373 tỷ đồng, bằng 59% so với tổng số thu trong 2 năm. Bình quân hằng năm, trong tổng số 5% quỹ BHXH ngắn hạn chỉ chi hết khoảng 2,1%, trong đó chi cho ốm đau khoảng 0,5%, cho thai sản khoảng 1%, cho tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp khoảng 0,1%, cho nghỉ dưỡng sức 0,5%. Hiện nay quỹ kết dư BHXH ngắn hạn đang được hòa chung với quỹ BHXH hưu trí, tiền tuất để cân đối tổng thể. Cách làm này làm lẫn lộn các nguồn quỹ, trái với phương pháp tính toán đóng - hưởng, cân đối thu - chi các quỹ BHXH khi hoạch định chính sách ban đầu.
Nguyên nhân chính dẫn đến kết dư quỹ BHXH ngắn hạn là do:
- Một là: Việc tính toán để đưa ra quy định mức đóng và sử dụng 5% cho quỹ này trong thời gian qua có thể chưa phù hợp. Thời kỳ trước năm 1995, quỹ này cũng chỉ sử dụng hết 2,5%, số kết dư chủ yếu để xây dựng các cơ sở nghỉ điều dưỡng của hệ thống công đoàn.
- Hai là: Ðối với cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang và lao động trong doanh nghiệp nhà nước, vừa được cấp đủ quỹ lương hoặc tính đủ đơn giá tiền lương hằng năm theo định biên được duyệt (không trừ 5% đã đóng BHXH), lại vừa đóng 5% cho BHXH ngắn hạn, do đó khi ốm đau thông thường, cán bộ, công chức vẫn được hưởng lương từ quỹ lương chứ không kê khai để hưởng trợ cấp ốm đau từ quỹ BHXH.
- Ba là: Mặc dù đây là khoản đóng góp và là quyền lợi của người lao động, song do thủ tục rườm rà, phiền phức để lĩnh một số tiền không lớn so với công sức đi lại, vì vậy nhiều người lao động không kê khai để hưởng.
Xuất phát từ tình hình thực tế nói trên, theo đề nghị của nhiều cơ quan chức năng, doanh nghiệp và cử tri, để góp phần giải quyết một số hạn chế trước mắt, đồng thời từng bước cải cách và hoàn thiện chính sách BHXH nhằm bảo vệ người lao động, bảo đảm an sinh xã hội ổn định lâu dài, Ủy ban về các vấn đề xã hội kiến nghị:
1. Ðối với Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Sớm thông qua Luật Bảo hiểm xã hội. Ðây là chính sách rất lớn, nhạy cảm, có ảnh hưởng lâu dài, vì vậy trước khi thông qua dự án Luật BHXH cần tổ chức lấy ý kiến rộng rãi cử tri, nhất là những người phải tham gia BHXH;
- Khi thông qua luật, pháp lệnh có ảnh hưởng đến cân đối thu - chi quỹ BHXH, phải tính toán bố trí ngân sách để bảo đảm việc thực hiện;
- Bố trí nguồn ngân sách đóng bù 14 năm tiền BHXH của 2,9 triệu cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang đã làm việc trước năm 1995 nay chuyển sang hưởng BHXH theo cơ chế mới;
- Ðề nghị đoàn đại biểu Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội tăng cường giám sát việc thực hiện pháp luật về BHXH ở địa phương.
2. Ðối với Chính phủ:
- Tổ chức, tổng kết đánh giá toàn diện kết quả tổ chức thực hiện BHXH từ năm 1995 đến nay và đẩy nhanh tiến độ soạn thảo dự án Luật BHXH để trình Quốc hội vào năm 2005;
- Chỉ đạo các bộ, ngành chức năng, các tỉnh, thành phố để tăng cường công tác quản lý nhà nước về BHXH ở địa phương, gắn trách nhiệm phối hợp của các cơ quan liên quan và chính quyền các cấp với cơ quan BHXH trong việc quản lý đối tượng tham gia BHXH ngay từ khi thành lập doanh nghiệp, tăng cường số lượng, chất lượng thanh tra viên và tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm việc thực hiện chính sách BHXH;
- Nghiên cứu điều chỉnh cơ chế quản lý thu - chi quỹ BHXH ngắn hạn, chỉ đạo cơ quan BHXH cải tiến các thủ tục phiền hà để người lao động thuận tiện tiếp cận các quyền của họ. Khắc phục tình trạng dùng ngân sách Nhà nước để chi trả lương cho người lao động khi ốm đau mà lẽ ra BHXH phải chi trả từ quỹ 5%;
- Cho phép đầu tư số tồn quỹ của BHXH vào một số dự án lớn của quốc gia có hiệu quả cao nhằm góp phần tăng vốn đầu tư phát triển, bảo toàn, tăng trưởng và cân đối quỹ về lâu dài;
- Xem xét điều chỉnh lại mức trích cho chi phí quản lý, định mức chi tiêu thường xuyên của cơ quan BHXH để bảo đảm tương quan với các ngành khác. Cần gắn chi phí quản lý với việc khai thác, thực hiện đúng, đủ đối tượng BHXH bắt buộc theo luật định và tỷ lệ thu lãi do đầu tư bảo toàn và tăng trưởng quỹ;
- Chỉ đạo BHXH Việt Nam và các cơ quan liên quan tăng cường tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức của người lao động và người sử dụng lao động về chính sách BHXH; củng cố tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cho cán bộ, viên chức; cải cách các thủ tục hành chính, thực hiện công khai việc đóng - hưởng BHXH ở cơ sở, thông báo định kỳ cho người lao động để tạo thuận lợi cho người sử dụng lao động và người lao động trong việc tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH; xác định, phân loại đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, phân cấp đến cấp xã, phường để quản lý chặt chẽ đối tượng bắt buộc tham gia BHXH theo quy định, trên cơ sở đó định kỳ thông báo cho cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra, xử lý việc vi phạm theo luật pháp;
- Chỉ đạo cơ quan chức năng rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về BHXH, khắc phục sớm những bất cập như phần trình bày trên, đồng thời xem xét tính khả thi của các văn bản pháp quy mà Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành.
3- Ðề nghị Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tăng cường các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của công đoàn các cấp, bảo vệ quyền lợi của người lao động nói chung và quyền được tham gia BHXH nói riêng.