<i>Tiếng đàn bầu</i> Lữ Giang

Nhà thơ Lữ Giang với dấu ấn văn chương của buổi ban đầu là bài thơ Thị xã được viết vào những ngày người dân Thanh Hóa tự tay tiêu thổ kháng chiến, phá tất cả những gì là:

Phố lớn, phố ngang, cửa tiền, cửa hậu
Mái trường nào bước chân tôi in dấu
Con đường nào xanh biếc hàng không...

Anh nói với người con gái "Thị xã" mà anh có mối tình trong trắng ngây thơ:

Mai tôi đi tới tận miền xa lạ
Em ở lại quê nhà có nhớ tôi không?

Cuối bài thơ ấy Lữ Giang ghi thêm: Thanh Hóa ngày tiêu thổ kháng chiến 1946.

Bài thơ mà tôi gọi là "bài thơ để đời" đó của Lữ Giang là Tiếng đàn bầu. Trong cả bài thơ dài ấy tôi chọn lấy những câu mà có lẽ bất cứ ai khi nghe cũng nhớ ngay đó là bài Tiếng đàn bầu và người thuộc những câu thơ đó đã khá phổ biến trong nhân dân nhiều năm gần đây:

Cung thanh là tiếng mẹ
Cung trầm là giọng cha...
Tiếng đàn bầu Việt Nam
Là tiếng người chiến thắng
Những cung thanh cung trầm
Cũng theo người ra trận
Việt Nam... Hồ Chí Minh...

Bài thơ Tiếng đàn bầu được viết trong một đêm cuối năm 1954, theo lời kể của ông, tiếng đàn bầu lần đầu tiên ông được nghe là khoảng năm 1944 khi đó ông bất chợt gặp người hát rong ở đầu phố Cầu Gỗ. Giữa đêm hè, phố vắng, người hát rong mù so đàn rồi gảy cho mình nghe một khúc Hận Nam Ai. Giọng đàn như ai oán, như than thở cho một kiếp mù lòa khác nào con chim lạc đàn trong buổi chiều hôm chạng vạng não nùng kêu những tiếng bi thương. Lữ Giang nghe từng cung thanh, cung trầm và thấy ông lão nhạt nhòa nước mắt. Còn mấy hào lẻ ông biếu người nghệ sĩ mù, cám ơn rồi về nhà trọ trong một tâm trạng suy tư buồn bã...

Tiếng đàn bầu ông được nghe lần thứ hai là trong đêm văn công ở khu 4 cũ vào năm 1951, hôm đó có nghệ sĩ Đào Mộng Long ngâm bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, chính tiếng đàn bầu ấy đã lay động hồn ông buồn nhớ về quê hương đang trong khói lửa kháng chiến chống thực dân Pháp.

Lần thứ ba ông được nghe tiếng đàn bầu cũng là lần đã đưa ông đến những cảm xúc mạnh mẽ nhất trong một đêm ở đầu phố Cầu Gỗ - Hàng Đào - Hàng Gai - Hà Nội vào một đêm cuối năm 1954. Trước đó vào khoảng tháng 9 năm 1954, ông còn ở vùng tự do Nghệ An, khi nghe tin Hà Nội giải phóng ông cùng với những người dân là ông Vũ Kỳ Lân (Thiếu tướng quân đội đã nghỉ hưu) và bà Mai Châu (Nghệ sĩ ưu tú) đã đạp xe đạp từ một làng bên bờ sông Lam ra Hà Nội và đêm ông đã kịp dự buổi biểu diễn của Đoàn văn công quân đội do nhà thơ Hoàng Cầm chỉ đạo. Cũng trong đêm ấy ông lại được nghe một nghệ sĩ đánh đàn bầu, tiếng đàn bầu đã gợi lại trong ông bao nỗi niềm của những lần nghe trước. Có lẽ đây là một đêm háo hức, xúc động nhất trong đời ông, nó được hòa vào sự vui sướng nhất của cả Hà Nội ngày Thủ đô được giải phóng.

Sau buổi biểu diễn của Đoàn văn công quân đội hôm đó, ông về phòng ngồi vào bàn viết một mạch đến gần sáng và bài thơ Tiếng đàn bầu được viết xong.

Lắng tai nghe đàn bầu
Ngân dài trong đêm thâu
Tiếng đàn như suối ngọt
Cứ đưa hồn lên cao...

Ít lâu sau bài thơ đã gợi ý cho nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc chuyển thành một bản nhạc hay và cũng bài hát này đã góp thêm phần đưa bài thơ Tiếng đàn bầu trở thành một trong những bài thơ được lớp trẻ yêu thích. Có lẽ đến lúc này (1954) với bài thơ Tiếng đàn bầu bạn đọc mới nhận chàng thi sĩ Lữ Giang là người có thể thay họ nói lên nỗi lòng mình, niềm vui và nỗi buồn của bao thế hệ người đọc nói riêng và người Việt Nam nói chung.

Có thể bạn quan tâm