Hướng dẫn cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

Thông tư số 157/2007/TT-BTC ngày 24-12- 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

Căn cứ Luật Quản lý thuế ngày 29 tháng 11 năm 2006;

Căn cứ các văn bản luật, pháp lệnh về thuế hiện hành;

Căn cứ Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Nghị định số 37/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính;

Căn cứ Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 06 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế  thi hành quyết định hành chính thuế;

Căn cứ Nghị định số 77/2003/NĐ-CP ngày 01 tháng 07 năm 2003 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính;

Bộ Tài chính hướng dẫn về cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế như sau:

A. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

I. Phạm vi, đối tượng áp dụng

1.  Phạm vi áp dụng: Thông tư này hướng dẫn thực hiện các nguyên tắc, trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp cưỡng chế và thẩm quyền cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP ngày 07 tháng 06 năm 2007 của Chính phủ quy định về việc xử lý vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế (gọi tắt là Nghị định số 98/2007/NĐ-CP) và các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hiện hành.

2. Đối tượng áp dụng: là người nộp thuế, cơ quan thuế, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế quy định tại Khoản 2, Điều 31 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP.

II. Các trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

1. Các trường hợp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thực hiện theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP.

2. Người nộp thuế đã quá thời hạn tự giác chấp hành, quá thời hạn hoãn chấp hành quyết định hành chính thuế mà không chấp hành quyết định hành chính thuế, không khắc phục hậu quả, nộp tiền thuế, tiền phạt vào Ngân sách Nhà nước hoặc có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn thì bị cưỡng chế thi hành trong các trường hợp sau đây:

a) Nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế đã quá chín mươi (90) ngày, kể từ ngày hết thời hạn phải nộp theo quy định.

b) Nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế đã hết thời hạn gia hạn nộp vào Ngân sách nhà nước theo quy định.

c) Nợ tiền thuế, tiền phạt vi phạm pháp luật về thuế có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn.

Thời hạn tự giác chấp hành quyết định hành chính thuế hướng dẫn tại khoản này bao gồm cả thời hạn gia hạn nộp thuế quy định tại Điều 24 Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số Điều của Luật Quản lý thuế và thời hạn hoãn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế quy định tại Điều 26 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP.

III. Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

1. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế quy định tại Điều 33 Nghị định 98/2007/NĐ-CP chỉ được áp dụng khi các quyết định hành chính thuế đã quá thời hạn chấp hành hoặc quá thời hạn hoãn chấp hành theo quy định của Luật Quản lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành.

2. Người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế đang trong quá trình thu thập thông tin để làm căn cứ ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế hoặc trong thời gian tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế mà đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế tự giác khắc phục hậu quả, nộp đủ tiền thuế, tiền phạt bị cưỡng chế vào Ngân sách Nhà nước thì việc thực hiện các thủ tục cưỡng chế được chấm dứt.

3. Việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thực hiện theo thứ tự quy định tại Khoản 1, Điều 93 Luật Quản lý thuế. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế tiếp theo được thực hiện khi không áp dụng được các biện pháp cưỡng chế trước đó hoặc đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế trước đó nhưng chưa thu đủ tiền thuế, tiền phạt theo quyết định hành chính thuế.

4. Không tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế trong các trường hợp: ngày nghỉ theo quy định của pháp luật về lao động và ngoài giờ hành chính (trừ trường hợp cần ngăn chặn đối tượng bị cưỡng chế có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành quyết định cưỡng chế); không tổ chức cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá trong thời gian mười lăm (15) ngày trước và sau Tết nguyên đán; các ngày truyền thống theo quy định của pháp luật mà đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thuộc diện được hưởng; ngày gia đình đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có việc hiếu, việc hỷ.

5. Khi khấu trừ tiền và kê biên tài sản của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thì chỉ được khấu trừ tiền và kê biên tài sản theo đúng  quy định của pháp luật.

6. Việc ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và tổ chức cưỡng chế thi hành đối với quyết định hành chính thuế của cấp dưới thực hiện theo quy định tại Điều 36, Nghị định số 98/2007/NĐ-CP.

7. Cách tính thời hạn để thực hiện các thủ tục cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

7.1. Trường hợp thời hạn được tính bằng “ngày” thì tính liên tục theo ngày dương lịch, kể cả ngày nghỉ.

7.2. Trường hợp thời hạn được tính bằng “ngày làm việc” thì tính theo ngày làm việc của cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật: là các ngày theo dương lịch trừ ngày thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết (gọi chung là ngày nghỉ).

7.3. Trường hợp thời hạn được tính từ một ngày cụ thể thì ngày bắt đầu tính thời hạn là ngày tiếp theo của ngày cụ thể đó.

7.4. Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn thực hiện thủ tục cưỡng chế trùng với ngày nghỉ theo quy định của pháp luật thì ngày cuối cùng của thời hạn được tính là ngày tiếp theo của ngày nghỉ đó.

IV. Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

1. Thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế của cơ quan thuế các cấp được thực hiện như sau:

1.1. Đối với các biện pháp cưỡng chế quy định tại Khoản 1, 2, 3, 4, 5 và Khoản 6 Điều 33 của Nghị định 98/2007/NĐ-CP:

a) Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Cục trưởng Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế do mình ban hành hoặc do cấp dưới ban hành.

b) Chi cục trưởng Chi cục Thuế có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết hành chính thuế đối với quyết định hành chính thuế do mình ban hành.

1.2. Đối với các biện pháp cưỡng chế quy định tại Khoản 7, Điều 33, Nghị định 98/2007/NĐ-CP: Thủ trưởng cơ quan thuế các cấp xét thấy cần thiết áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề của người nộp thuế theo quy định tại Khoản 1, Điều 102 Luật Quản lý thuế, thì phải lập hồ sơ, tài liệu và thông báo, chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề theo quy định của pháp luật.

2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thuộc phạm vi mình phụ trách.

V. Nguồn tiền khấu trừ và tài sản kê biên đối với tổ chức bị áp dụng cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế

Nguồn tiền khấu trừ và tài sản kê biên đối với tổ chức bị áp dụng cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật khác liên quan.

VI. Thủ tục giao, nhận quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế 

1. Người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế, công chức thuế có trách nhiệm thi hành quyết định cưỡng chế phải giao trực tiếp quyết định cưỡng chế cho đối tượng bị cưỡng chế biết trước khi tiến hành cưỡng chế là năm (05) ngày làm việc và phải có chữ ký xác nhận của đối tượng bị cưỡng chế hoặc người nhận thay. Trường hợp có khó khăn trong việc giao trực tiếp quyết định cưỡng chế cho đối tượng bị cưỡng chế thì quyết định cưỡng chế được chuyển cho đối tượng bị cưỡng chế bằng thư bảo đảm qua đường bưu điện. 

a) Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế vắng mặt thì quyết định cưỡng chế được giao cho Thủ trưởng cơ quan nơi người đó công tác hoặc người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự đầy đủ cùng sống trong một gia đình nhận thay. Người nhận thay phải cam kết chuyển quyết định cưỡng chế kịp thời, đúng thời gian quy định trực tiếp đến đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. Việc giao, nhận quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế phải có ký xác nhận. Thời điểm xác định đối tượng bị cưỡng chế nhận được quyết định cưỡng chế là thời điểm người nhận thay cam kết chuyển cho đối tượng bị cưỡng chế. 

 b) Trường hợp vì lý do khách quan mà người đã cam kết nhận thay quyết định cưỡng chế không chuyển được quyết định cưỡng chế cho đối tượng bị cưỡng chế thì phải báo cho cơ quan tổ chức cưỡng chế biết trong thời hạn năm (05) ngày, kể từ ngày ký nhận thay. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế không ký nhận quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế thì cơ quan tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế gửi thông báo quyết định cưỡng chế cho Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi đối tượng bị cưỡng chế đóng trụ sở chính hoặc cư trú để thông báo cho đối tượng bị cưỡng chế biết. 

2. Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế phải được gửi cho cơ quan thuế cấp trên quản lý trực tiếp. Trường hợp cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản thì phải thông báo cho Uỷ ban nhân dân  xã, phường, thị trấn nơi đối tượng đóng trụ sở chính hoặc cư trú hoặc cơ quan đối tượng bị cưỡng chế làm việc trong thời hạn năm (05) ngày làm việc trước khi tiến hành cưỡng chế để phối hợp thực hiện. 

3. Trường hợp có căn cứ cho rằng đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có dấu hiệu tẩu tán tiền trong tài khoản hoặc tẩu tán tài sản thì người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế phải tổ chức thực hiện ngay quyết định cưỡng chế mà không cần phải thông qua các thủ tục giao, nhận quyết định cưỡng chế thuế theo hướng dẫn tại Mục này.  

Căn cứ xác định đối tượng bị cưỡng chế có dấu hiệu tẩu tán tài sản gồm: Thực hiện thủ tục chuyển nhượng, cho, bán tài sản có giá trị lớn, giải toả tẩu tán số dư tài khoản tiền gửi một cách bất thường không liên quan đến các giao dịch thông thường. 

VII. Trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế 

1. Người ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có trách nhiệm tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế đó. Cơ quan tổ chức cưỡng chế có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan để bảo đảm an toàn, trật tự trong quá trình tổ chức cưỡng chế. 

2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đối tượng bị cưỡng chế, có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan liên quan trên địa bàn mình phụ trách để phối hợp thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế khi có yêu cầu của người ban hành quyết định cưỡng chế hoặc cơ quan tổ chức việc thi hành quyết định cưỡng chế. 

3. Để bảo đảm trật tự, an toàn và được hỗ trợ trong quá trình cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, người ban hành quyết định cưỡng chế hoặc cơ quan chủ trì tổ chức cưỡng chế có văn bản yêu cầu gửi đến cơ quan công an nhân dân quận, huyện nơi đối tượng bị cưỡng chế cư trú hoặc có tài sản bị cưỡng chế trước khi thực hiện cưỡng chế là năm (05) ngày làm việc. Khi nhận được văn bản yêu cầu, cơ quan công an có trách nhiệm phối với với cơ quan chủ trì cưỡng chế bố trí đủ lực lượng tham gia đảm bảo trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế. 

4. Đối với cá nhân, tổ chức liên quan đến đối tượng bị cưỡng chế có trách nhiệm phối hợp trong việc thực hiện quyết định cưỡng chế khi có yêu cầu của người ban hành quyết định cưỡng chế hoặc cơ quan chủ trì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế. 

VIII. Thời hiệu thi hành quyết định cưỡng chế  

1. Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có hiệu lực thi hành trong thời hạn một năm, kể từ ngày ban hành quyết định. Riêng đối với quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế có hiệu lực thi hành trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định. 

2. Trường hợp cá nhân, tổ chức bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu thi hành được tính lại kể từ thời điểm hành vi trốn tránh, trì hoãn được chấm dứt. 

3. Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế chấm dứt hiệu lực kể từ khi đối tượng bị cưỡng chế chấp hành xong quyết định xử lý hành chính; tiền thuế, tiền phạt của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế đã được nộp đủ vào Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế mở tại Kho bạc Nhà nước.  

B. CÁC BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ VÀ TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CƯỠNG CHẾ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH THUẾ 

I.  Cưỡng chế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản 

1. Đối tượng áp dụng  

Biện pháp trích tiền từ tài khoản áp dụng đối với đối tượng bị cưỡng chế là người nộp thuế và tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ tiền đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế không tự nguyện chấp hành nộp tiền thuế, tiền phạt theo quyết định hành chính thuế có tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác. 

2. Xác minh thông tin về tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế 

2.1. Người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có quyền thu thập, xác minh thông tin về tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế, yêu cầu Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác cung cấp thông tin về tài khoản, như: Số hiệu về tài khoản, số tiền hiện có trong tài khoản và các thông tin có liên quan khác. Người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế có trách nhiệm bảo mật những thông tin về tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế khi được Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác cung cấp. 

2.2. Đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có nghĩa vụ cung cấp cho người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế về nơi mở tài khoản, số và ký hiệu tài khoản khi có  yêu cầu. 

2.3. Kho bạc nhà nước, Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác, nơi đối tượng bị cưỡng chế mở tài khoản có trách nhiệm cung cấp thông tin cho người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế biết số hiệu tài khoản, nội dung giao dịch của tài khoản, số dư tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế khi có yêu cầu. 

3. Quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản  

3.1. Quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản phải ghi rõ các nội dung sau: ngày, tháng, năm ban hành quyết định; căn cứ ban hành quyết định; họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người ban hành quyết định; số tiền phải trích từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế để thanh toán tiền nợ thuế, tiền phạt và chi phí cưỡng chế (nếu có); lý do cưỡng chế trích tiền từ tài khoản; họ tên, mã số thuế, số tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế trích tiền từ tài khoản; tên, địa chỉ Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nơi đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế trích tiền từ tài khoản mở tài khoản; tên, địa chỉ, số tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế mở tại Kho bạc Nhà nước; phương thức chuyển tiền đến tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế mở tại kho bạc nhà nước; thời hạn thi hành và chữ ký của người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế, dấu của cơ quan ban hành quyết định cưỡng chế. 

3.2. Trường hợp đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có mở tài khoản tiền gửi tại nhiều Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nhau thì người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế căn cứ vào số dư tài khoản để ban hành quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản đối với một tài khoản hoặc nhiều tài khoản để đảm bảo thu đủ tiền thuế, tiền phạt. 

3.3. Quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bằng biện pháp trích tiền từ tài khoản được gửi cho đối tượng bị cưỡng chế, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác nơi đối tượng bị cưỡng chế có tài khoản tiền gửi bị cưỡng chế và cơ quan thuế cấp trên quản lý trực tiếp. 

4. Trách nhiệm của Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nơi đối tượng bị cưỡng chế mở tài khoản 

4.1. Cung cấp các thông tin cần thiết bằng văn bản về số hiệu tài khoản, số dư tiền gửi của đối tượng bị cưỡng chế mở tại đơn vị mình trong thời hạn ba (03) ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của thủ trưởng cơ quan thuế.  

4.2. Ngay khi nhận được quyết định cưỡng chế trích tiền tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế do người có thẩm quyền ban hành, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác có trách nhiệm phong toả tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế; làm thủ tục trích chuyển số tiền của đối tượng bị cưỡng chế vào tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế mở tại Kho bạc Nhà nước trong thời hạn năm (05) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; thông báo cho cơ quan ban hành quyết định cưỡng chế và đối tượng bị cưỡng chế biết. 

Trường hợp đối tượng bị cuỡng chế đã thực hiện nộp đủ tiền thuế, tiền phạt bằng hình thức khác thì cơ quan thuế phải thông báo cho Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nơi đối tượng bị cưỡng chế mở tài khoản biết để dừng việc phong toả tài khoản và dừng việc cưỡng chế trích tiền từ tài khoản. 

4.3. Thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế trong trường hợp quá ba mươi (30) ngày kể từ ngày nhận được quyết định cưỡng chế mà tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế không còn tiền để trích nộp số tiền thuế, tiền phạt bị cưỡng chế vào tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế mở tại Kho bạc Nhà nước. 

4.4. Bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quy định tại điểm b, Khoản 1, Điều 16 Nghị định số 198/2007/NĐ-CP trong trường hợp tài khoản của cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế còn số dư mà Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác không thực hiện trích chuyển vào tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế mở tại Kho bạc Nhà nước. 

II. Cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập 

1. Đối tượng áp dụng 

Khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập đối với người nộp thuế là cá nhân còn nợ tiền thuế, tiền phạt mà không tự giác chấp hành quyết định hành chính thuế thuộc đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định tại Điều 45 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP trong trường hợp không có tiền gửi tại Kho bạc nhà nước, Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác hoặc có tài khoản tiền gửi nhưng không có số dư trên tài khoản hoặc số dư không đủ nộp số tiền thuế, tiền phạt. 

2. Xác minh thông tin về tiền lương và thu nhập 

Người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có trách nhiệm tổ chức xác minh về các khoản tiền lương, thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; tổ chức, cá nhân chi trả tiền lương, thu nhập của đối tượng bị cưỡng chế. 

Đối tượng bị cưỡng chế; tổ chức, cá nhân đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập và các tổ chức, cá nhân liên quan phải cung cấp các thông tin về thu nhập cho thủ trưởng cơ quan thuế trong thời hạn ba (03) ngày làm việc, kể từ ngày được nhận yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các thông tin đã cung cấp.  

3. Quyết định cưỡng chế khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập đối với cá nhân 

3.1. Quyết định cưỡng chế khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập phải ghi rõ ngày, tháng, năm ban hành quyết định; căn cứ ban hành quyết định; họ tên, chức vụ, đơn vị công tác của người ban hành quyết định; họ tên, địa chỉ của cá nhân bị cưỡng chế khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập; tên, địa chỉ cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế; số tiền bị khấu trừ (theo số tiền ghi trên quyết định hành chính thuế và chi phí cưỡng chế tính đến hết thời hạn năm (05) ngày trước khi tiến hành cưỡng chế), lý do khấu trừ; tên, địa chỉ, số tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế mở tại Kho bạc Nhà nước, phương thức chuyển số tiền bị khấu trừ; thời gian thi hành và chữ ký của người ban hành quyết định, dấu của cơ quan ban hành quyết định cưỡng chế. 

3.2. Quyết định cưỡng chế được gửi đến cá nhân bị cưỡng chế, cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế và các cơ quan có liên quan trong thời hạn năm (05) ngày làm việc. 

4. Mức khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập 

4.1. Tổng số tiền lương, thu nhập làm căn cứ khấu trừ là toàn bộ các khoản tiền lương, các khoản có tính chất tiền lương, tiền thưởng và các khoản thu nhập hợp pháp khác phát sinh trong tháng. 

4.2. Tỷ lệ khấu trừ tiền lương, các khoản có tính chất lương đối với cá nhân không thấp hơn mười phần trăm (10%) và không quá ba mươi phần trăm (30%) tổng số tiền lương, tiền thưởng có tính chất lương, trợ cấp hàng tháng của cá nhân đó; đối với những khoản thu nhập khác thì tỷ lệ khấu trừ căn cứ vào thu nhập thực tế, nhưng không quá năm mươi phần trăm (50%) tổng số thu nhập. 

5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế 

5.1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế có trách nhiệm khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế và chuyển số tiền đã khấu trừ nộp vào tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế mở tại Kho bạc Nhà nước theo nội dung ghi trong quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, kể từ kỳ trả tiền lương hoặc thu nhập gần nhất cho đến khi khấu trừ đủ số tiền thuế, tiền phạt theo quyết định cưỡng chế, đồng thời thông báo cho người ban hành quyết định cưỡng chế và đối tượng bị cưỡng chế biết. 

5.2. Trường hợp chưa khấu trừ đủ số tiền thuế, số tiền phạt theo quyết định cưỡng chế mà hợp đồng lao động của cá nhân bị cưỡng chế đã chấm dứt thì tổ chức sử dụng lao động phải thông báo cho người ban hành quyết định cưỡng chế biết trong thời hạn năm (05) ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động; 

5.3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế cố tình không thực hiện việc khấu trừ tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế theo quyết định cưỡng chế thì bị xử phạt vi phạm pháp luật về thuế theo quy định tại Điều 17 Nghị định 98/2007/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật về thuế đối với tổ chức, cá nhân liên quan. 

III. Cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên 

1. Đối tượng áp dụng:  

Biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để bán đấu giá được áp dụng đối với đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định tại Điều 49 Nghị định số 98/2007/NĐ-CP trong trường hợp không áp dụng được biện pháp trích tiền từ tài khoản hoặc khấu trừ một phần tiền lương và thu nhập; hoặc đã áp dụng nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế, tiền phạt: 

1.1. Cá nhân, tổ chức không có tài khoản hoặc có tài khoản tại Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác nhưng không có tiền trong tài khoản hoặc số tiền trong tài khoản không đủ để thực hiện quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế. 

1.2.  Cá nhân bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế không có cơ quan, tổ chức quản lý tiền lương, quản lý thu nhập cố định để áp dụng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc một phần thu nhập. 

1.3. Không áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế  bằng hình thức kê biên tài sản đối với đối tượng bị cưỡng chế là cá nhân đang trong thời gian chữa bệnh (có xác nhận của tổ chức y tế cấp huyện được thành lập và hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật). 

2. Những tài sản sau đây không được kê biên  

2.1. Đối với đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế là cá nhân: 

a) Nhà ở duy nhất của cá nhân bị cưỡng chế và gia đình. Trường hợp cá nhân bị cưỡng chế có nhiều nhà ở thì phải xác minh rõ kê biên ngôi nhà có giá trị đủ để thanh toán tiền thuế nợ, tiền phạt và chi phí cưỡng chế.  

b) Thuốc chữa bệnh cần dùng cho nhu cầu phòng, chữa bệnh, lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu thiết yếu cho đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và gia đình họ; 

c) Công cụ lao động thông thường cần thiết được dùng làm phương tiện sinh sống chủ yếu hoặc duy nhất của cá nhân bị cưỡng chế và gia đình. 

Các công cụ lao động có giá trị như xe máy, ô tô, tàu, thuyền, máy cày, máy xay xát và các công cụ có giá trị khác của đối tượng bị cưỡng chế vẫn thực hiện kê biên, bán đấu giá để thi hành quyết định cưỡng chế và trích lại một khoản tiền để đối tượng bị cưỡng chế có thể thay thế bằng một công cụ lao động khác có giá trị thấp hơn; 

d) Quần áo, đồ dùng sinh hoạt thông thường cần thiết cho người bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và gia đình theo mức tối thiểu ở từng địa phương như nồi, xoong, bát đĩa, giường, tủ, bàn ghế và các vật dụng thông thường khác có giá trị không lớn. Những đồ dùng sinh hoạt hay tư trang như ti vi, tủ lạnh, máy điều hoà, máy giặt, máy vi tính, đồ trang sức bằng vàng, bạc, đá quý (trừ nhẫn cưới) thì vẫn kê biên để bảo đảm thi hành quyết định hành chính thuế; 

e) Đồ dùng thờ cúng, di vật, huân chương, huy chương, bằng khen. 

2.2. Đối với đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế là cơ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: 

a) Thuốc men chữa bệnh, phương tiện, dụng cụ, tài sản thuộc cơ sở y tế, khám chữa bệnh, trừ các tài sản kinh doanh; lương thực, thực phẩm, dụng cụ, tài sản phục vụ ăn giữa ca cho người lao động; 

b) Nhà trẻ, trường học và các thiết bị, phương tiện, đồ dùng thuộc các cơ sở này, nếu đây không phải là tài sản kinh doanh của doanh nghiệp; 

c) Trang thiết bị phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động; phòng chống cháy nổ, phòng chống ô nhiễm môi trường; 

d) Cơ sở hạ tầng quan trọng phục vụ lợi ích công cộng, an ninh, quốc phòng; 

e) Nguyên - vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm là các hoá chất độc hại nguy hiểm hoặc tài sản không được phép lưu hành; 

g) Số nguyên - vật liệu bán thành phẩm đang nằm trong dây chuyền sản xuất khép kín. 

2.3. Đối với đối tượng bị cưỡng chế là cơ quan nhà nước, tổ chức hoạt động bằng nguồn vốn do Ngân sách Nhà nước cấp thì không kê biên các tài sản do Ngân sách Nhà nước trực tiếp cấp mà yêu cầu tổ chức đó có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền hỗ trợ tài chính để thực hiện quyết định cưỡng chế. 

Trường hợp tổ chức có nguồn thu từ các hoạt động có thu hợp pháp khác thì kê biên các tài sản có nguồn gốc từ nguồn thu đó để thực hiện quyết định cưỡng chế, trừ các tài sản, hàng hoá sau đây: 

a) Thuốc men chữa bệnh, phương tiện, dụng cụ, tài sản thuộc cơ sở y tế, khám chữa bệnh, trừ trường hợp đây là các tài sản lưu thông để kinh doanh; lương thực, thực phẩm, dụng cụ, tài sản phục vụ việc ăn giữa ca cho cán bộ, công chức; 

b) Nhà trẻ, trường học các thiết bị, phương tiện, đồ dùng thuộc các cơ sở này, nếu đây không phải là tài sản lưu thông kinh doanh của cơ quan, tổ chức; 

c) Trang thiết bị, phương tiện, công cụ bảo đảm an toàn lao động; phòng chống cháy nổ, phòng chống ô nhiễm môi trường; 

d) Trụ sở làm việc. 

3. Xác minh thông tin về tài sản của đối tượng bị cưỡng chế 

3.1. Người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế kê biên tài sản, bán đấu giá có trách nhiệm xác minh điều kiện thi hành của đối tượng bị cưỡng chế. Chính quyền địa phương, cơ quan đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và các tổ chức, cá nhân liên quan phải tạo điều kiện, cung cấp các thông tin cần thiết theo quy định của pháp luật cho cơ quan thực hiện cưỡng chế trong việc xác minh điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế.  

Người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế cần xác minh số tiền cưỡng chế có khả năng thu được bằng việc trực tiếp xem xét tài sản, kiểm tra hệ thống sổ sách quản lý vốn, tài sản... và thông qua các cơ quan khác như: cơ quan quản lý vốn, tài sản hoặc cơ quan đăng ký kinh doanh, đăng ký tài sản, Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng, cá nhân, tổ chức liên quan khác để xác minh điều kiện tài sản của các cơ quan, tổ chức này. 

3.2. Việc xác minh phải lập biên bản ghi rõ trách nhiệm của người cung cấp thông tin. Trong trường hợp cán bộ thuộc tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế giúp người ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện xác minh điều kiện thi hành quyết định cưỡng chế thì người ban hành quyết định cưỡng chế phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả xác minh đó. 

Việc xác minh phải thể hiện được trạng thái của tài sản, điều kiện kinh tế của đối tượng bị cưỡng chế có xác nhận của Uỷ ban nhân dân và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Việc xác minh đối với tài sản thuộc diện phải đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản cần căn cứ vào hợp đồng mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng hoặc tặng cho, giấy chứng nhận về quyền sở hữu, sử dụng tài sản; thông qua chủ sở hữu, chính quyền địa phương, cơ quan chức năng hoặc người làm chứng như xác nhận của người bán, của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng về việc mua bán. Các thông tin xác minh đối với tài sản thuộc diện phải đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng tài sản có thể thông báo rộng rãi để người có quyền, nghĩa vụ liên quan được biết và bảo vệ lợi ích của họ. 

Đối với tài sản đã được cầm cố, thế chấp hợp pháp không thuộc diện được kê biên theo hướng dẫn tại Mục III, Phần B Thông tư này thì cơ quan tiến hành kê biên phải thông báo cho người nhận cầm cố, thế chấp biết nghĩa vụ của đối tượng bị cưỡng chế và yêu cầu họ thông báo để cơ quan tiến hành kê biên kê biên tài sản khi người cầm cố, thế chấp thanh toán nghĩa vụ theo hợp đồng cầm cố, thế chấp. 

4.  Quyết định cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên 

Quyết định cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên phải ghi rõ ngày tháng năm ban hành quyết định; căn cứ quyết định; họ, tên chức vụ (cấp bậc), đơn vị người ban hành quyết định; họ tên, nơi cư trú, trụ sở của cá nhân tổ chức bị kê biên tài sản; số tiền thuế, tiền phạt mà đối tượng bị kê biên phải nộp vào tài khoản thu Ngân sách Nhà nước hoặc tài khoản tạm giữ của cơ quan thuế mở tại Kho bạc Nhà nước; địa điểm kê biên tài sản; chữ ký của người ban hành quyết định, dấu của cơ quan ban hành quyết định kê biên tài sản. 

Quyết định cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản phải gửi cho cá nhân, tổ chức bị kê biên tài sản, Ủy ban nhân dân cấp xã (phường) nơi người đó c� trú hoặc tổ chức có trụ sở đóng trên địa bàn hoặc cơ quan nơi người đó công tác trước khi tiến hành cưỡng chế kê biên là năm (05) ngày làm việc, trừ trường hợp cơ quan ban hành quyết định có căn cứ xác định việc gửi trước quyết định sẽ gây trở ngại cho việc tiến hành kê biên. 

5. Thủ tục thực hiện biện pháp kê biên tài sản 

5.1. Việc kê biên tài sản phải thực hiện vào ban ngày và trong giờ làm việc hành chính áp dụng tại địa phương kê biên tài sản, trừ trường hợp phát hiện đối tượng bị cưỡng chế có hành vi tẩu tán, huỷ hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành quyết định cưỡng chế thì người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế có quyền tổ chức ngay việc kê biên tài sản để ngăn chặn các hành vi trên của đối tượng bị cưỡng chế.  

5.2. Người ban hành quyết định cưỡng chế hoặc người được phân công thực hiện quyết định cưỡng chế chủ trì thực hiện việc kê biên.  

5.3. Trước khi ban hành quyết định kê biên tài sản, người ban hành quyết định cưỡng chế yêu cầu cơ quan đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản cung cấp thông tin về quyền sở hữu, sử dụng tài sản của đối tượng bị cưỡng chế; yêu cầu cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm cung cấp thông tin về tài sản dự định kê biên có đang được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của đối tượng bị cưỡng chế đối với người có quyền hay không hoặc tài sản do đối tượng bị cưỡng chế quản lý, sử dụng có phải là tài sản thuê mua tài chính hay không. Trong thời hạn năm ngày (05) làm việc, các cơ quan nói trên phải trả lời bằng văn bản cho người ban hành quyết định cưỡng chế về những nội dung yêu cầu đó. Trường hợp xác định số tiền thu được từ hoạt động cưỡng chế không đủ bù đắp chi phí cưỡng chế thì báo cáo cơ quan thuế cấp trên để tạm hoãn ban hành quyết định cưỡng chế (trừ trường hợp được miễn, giảm phí thi hành quyết định cưỡng chế nêu tại khoản 4.1, Mục VI, Phần B Thông tư này). 

5.4. Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt cá nhân bị cưỡng chế hoặc người đã thành niên trong gia đình, đại diện hợp pháp của tổ chức bị kê biên tài sản, đại diện chính quyền địa phương và người chứng kiến.  

Nếu cá nhân phải thi hành quyết định cưỡng chế hoặc người đã thành niên trong gia đình cố tình vắng mặt, thì vẫn tiến hành kê biên tài sản nhưng phải có đại diện của chính quyền địa phương và người chứng kiến. 

Khi tiến hành kê biên phải thực hiện niêm phong tài sản và lập biên bản niêm phong theo đúng mẫu ban hành kèm theo Thông tư này. 

5.5. Cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế có quyền đề nghị kê biên tài sản nào trước, người được giao chủ trì kê biên phải chấp nhận nếu xét thấy đề nghị đó không ảnh hưởng đến việc thực hiện quyết định cưỡng chế. 

Nếu cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không đề nghị cụ thể việc kê biên tài sản nào trước thì tài sản thuộc sở hữu riêng được kê biên trước. 

5.6. Trong trường hợp kê biên tài sản là nhà ở hoặc đồ vật đang bị khoá hay đóng gói thì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế yêu cầu đối tượng bị cưỡng chế, người đang sử dụng, quản lý tài sản đó mở khóa, mở gói; nếu đối tượng bị cưỡng chế, người đang sử dụng, quản lý tài sản không mở hoặc cố tình vắng mặt thì tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế lập biên bản (có đại diện của chính quyền địa phương và người chứng kiến) mở khoá hay mở gói để kiểm tra, liệt kê cụ thể các tài sản và kê biên theo quy định của pháp luật. 

5.7. Đối với trường hợp tài sản kê biên thuộc diện đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì khi ban hành quyết định cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, người chủ trì thực hiện quyết định cưỡng chế phải thông báo ngay cho các cơ quan sau đây biết việc kê biên tài sản: 

a) Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, cơ quan có thẩm quyền về đăng ký tài sản gắn liền với đất trong trường hợp kê biên quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; 

b) Cơ quan đăng ký phương tiện giao thông đường bộ, trong trường hợp tài sản kê biên là phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; 

c) Các cơ quan có thẩm quyền đăng ký quyền sở hữu, sử dụng khác theo quy định của pháp luật. 

5.8. Kể từ thời điểm nhận được thông báo về việc kê biên tài sản, cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản không thực hiện việc đăng ký chuyển dịch tài sản đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 

Trong thời hạn không quá 03 ngày làm việc, kể từ ngày giải toả kê biên tài sản hay hoàn tất việc bán hoặc giao tài sản kê biên để cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế phải thông báo cho cơ quan đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng tài sản, cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm nêu tại khoản 5.7, Mục này.

 5.9. Khi thực hiện kê biên tài sản thì tuỳ từng trường hợp cụ thể để tiến hành kê biên như sau:

 a) Chỉ kê biên những tài sản thuộc sở hữu chung của cá nhân bị cưỡng chế với người khác nếu cá nhân bị cưỡng chế không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế.

 b) Chỉ kê biên quyền sử dụng đất, nhà ở, trụ sở của đối tượng bị cưỡng chế nếu sau khi kê biên hết các tài sản khác mà vẫn không đủ để thi hành quyết định cưỡng chế.

c) Chỉ được kê biên tài sản của đối tượng bị cưỡng chế đủ để đảm bảo thi hành quyết đ

Có thể bạn quan tâm