Hợp tác quốc tế về khoa học xã hội và nhân văn

Hợp tác quốc tế là xu hướng tất yếu trong kỷ nguyên toàn cầu hóa. Với khoa học xã hội và nhân văn, đó là quá trình chuyển đổi, tham gia sâu vào các mạng lưới học thuật khu vực và thế giới giúp công tác hoạch định chính sách ngày càng được nâng cao, khẳng định vị thế quốc gia trong bối cảnh cạnh tranh tri thức ngày càng gay gắt.

Giảng viên và sinh viên Khoa Đông phương học, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) tham dự hội thảo quốc tế tại Lào tháng 12/2025.
Giảng viên và sinh viên Khoa Đông phương học, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) tham dự hội thảo quốc tế tại Lào tháng 12/2025.

Xu hướng tất yếu

Khoa học xã hội và nhân văn là lĩnh vực đặc thù, gắn với nền tảng lý luận, tư tưởng, phục vụ việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Khoa học xã hội với vai trò nền tảng cho phát triển bền vững không thể ở trạng thái khép kín, mà cần được mở rộng để tiếp nhận tri thức lý luận của các nước, áp dụng hiệu quả vào bối cảnh trong nước, hình thành một hệ thống lý luận đủ chiều sâu và sức mạnh để dẫn dắt xã hội, đồng thời ảnh hưởng tích cực tới các quốc gia khác.

Trong mấy thập kỷ hội nhập vừa qua, khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam đã đạt được một số thành tựu quan trọng trong hợp tác quốc tế. Từ chỗ vận hành trong những khuôn khổ lý luận truyền thống, chúng ta đã tiếp cận và sử dụng ngày càng phổ biến các lý thuyết và phương pháp nghiên cứu hiện đại của thế giới. Khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam đã mở rộng hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu nước ngoài để triển khai nhiều đề tài, dự án nghiên cứu song phương và đa phương. Nhiều nhóm nghiên cứu tiệm cận chuẩn mực quốc tế hình thành và hoạt động hiệu quả.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS) cho biết, hiện nay VASS đang duy trì 39 thỏa thuận quốc tế với các cơ quan nghiên cứu, tư vấn chính sách và trường đại học uy tín trên thế giới; triển khai cơ chế hội thảo thường niên song phương và đa phương với các đối tác từ Lào, Trung Quốc, Campuchia, Hàn Quốc, Nga, Nhật Bản, Ấn Độ.

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cũng tích cực tham gia và thực hiện các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, cung cấp báo cáo và hoàn thành nhiệm vụ được phân công trong các chuyến thăm cấp Nhà nước của lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Viện cũng đang thực hiện tốt vai trò phụ trách Tiểu ban Khoa học xã hội thuộc Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam, phối hợp Văn phòng UNESCO Việt Nam tổ chức nhiều hội thảo quốc tế cũng như tranh thủ nguồn lực quốc tế hỗ trợ thực hiện mục tiêu.

Riêng trong năm 2025, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã cử 236 đoàn ra, phê duyệt đón 56 đoàn vào, làm thủ tục xin phép nhập cảnh cho hơn 300 lượt khách quốc tế vào làm việc tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; đồng thời tổ chức 51 hội thảo, tọa đàm quốc tế, ký kết 2 thỏa thuận quốc tế mới, phê duyệt chủ trương cho phép các đơn vị trực thuộc ký kết 16 thoả thuận quốc tế khác với các đối tác Australia, Trung Quốc, Cộng hòa Slovakia, Italia, Ấn Độ, Nga…

Trong lĩnh vực đào tạo, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (USSH) - đơn vị đào tạo chủ lực về khoa học xã hội và nhân văn đã không ngừng thúc đẩy hợp tác với các đơn vị quốc tế. Trong năm 2025, USSH đã kết nối, hợp tác đào tạo với Trường đại học Nhân dân Trung Quốc trong các lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, lịch sử, chính trị, kinh tế. Ký kết hợp tác với Trường đại học Nhân văn quốc gia Nga, xây dựng các chương trình trao đổi dành cho sinh viên, giảng viên; đồng thời hợp tác với Đại học Kyoto Sangyo (Nhật Bản) trong các ngành Nhật Bản học, Đông phương học; ký kết hợp tác với Học viện Pháp cổ Văn Lý (Trung Quốc)…

Các rào cản và giải pháp

Trong hợp tác quốc tế, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn hiện đang tồn tại một số hạn chế nhất định. Nhiều công trình nghiên cứu vẫn đang ở mức độ minh họa, diễn giải các lý thuyết quốc tế mà thiếu kiểm chứng, điều chỉnh, sáng tạo trên nền tảng thực tiễn trong nước. Ngôn ngữ học thuật và đối thoại quốc tế vẫn đang là một điểm nghẽn đáng lo ngại khi chủ yếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu về lý luận liên quan các vấn đề nền tảng của Việt Nam vẫn được công bố bằng tiếng Việt, hạn chế khả năng lan tỏa tri thức ra khu vực và thế giới. Chúng ta chưa có nhiều trung tâm nghiên cứu lý luận mạnh mang tầm quốc gia, đủ sức dẫn dắt những chương trình lý luận lớn, có ảnh hưởng lâu dài trong nước và quốc tế.

Những rào cản này đòi hỏi cần phải có một chiến lược tổng thể, toàn diện cho việc nghiên cứu hệ thống lý luận phục vụ phát triển bền vững đất nước dựa trên tri thức ngoại sinh, thông qua sự hợp tác quốc tế sâu rộng, đồng thời chắt lọc để tìm ra những giá trị thật sự hữu ích đối với các vấn đề trong nước, từ đó phục vụ tốt công tác hoạch định chính sách.

Báo cáo tổng kết năm 2025 của VASS chỉ rõ những điểm hạn chế trong hợp tác quốc tế về khoa học xã hội và nhân văn, trong đó nhấn mạnh vấn đề cơ chế, chính sách quản lý còn chưa theo kịp bối cảnh quốc tế diễn biến nhanh, kinh phí dành cho các hoạt động hợp tác quốc tế còn thấp, định mức chi chậm được cập nhật theo biến động thị trường làm hạn chế việc khai thác đầy đủ các thỏa thuận hợp tác quốc tế, chủ động mở rộng mạng lưới và tranh thủ nguồn lực chuyên gia quốc tế. Đặc biệt, chất lượng nhân lực khoa học phục vụ hợp tác quốc tế còn hạn chế.

Sứ mệnh chiến lược của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam không thể chỉ dừng lại ở việc “theo kịp” thế giới mà phải vươn lên thực hiện một bước chuyển căn bản: Từ tiếp nhận sang bản địa hoá tri thức một cách sáng tạo, cao hơn nữa là hình thành, đóng góp các học thuyết Việt Nam có giá trị khoa học và giá trị tham khảo quốc tế.

Tiến sĩ Đào Ngọc Báu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tại Hội thảo “Vai trò, vị thế của nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn khi bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc”, Tiến sĩ Đào Ngọc Báu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, sứ mệnh chiến lược của khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam không thể chỉ dừng lại ở việc “theo kịp” thế giới mà phải vươn lên thực hiện một bước chuyển căn bản: Từ tiếp nhận sang bản địa hoá tri thức một cách sáng tạo, cao hơn nữa là hình thành, đóng góp các học thuyết Việt Nam có giá trị khoa học và giá trị tham khảo quốc tế. Đây vừa là yêu cầu nội tại của một ngành khoa học, vừa là vấn đề gắn liền với bảo đảm độc lập, tự chủ về tư tưởng, nâng cao năng lực hoạch định chính sách và khẳng định vị thế quốc gia trong cạnh tranh tri thức toàn cầu.

Để làm được điều này cần ba đột phá chiến lược, gồm: Đổi mới căn bản cơ chế đầu tư và đánh giá khoa học theo hướng ưu tiên lý luận nền tảng dài hạn; cải cách mạnh mẽ đào tạo nhân lực theo hướng hình thành năng lực sáng tạo lý luận, tư duy khung và năng lực đối thoại quốc tế; đẩy mạnh quốc tế hóa nghiên cứu và công bố, để khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam tham gia vào dòng chảy học thuật toàn cầu.

Chỉ khi khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam làm chủ được năng lực lý giải, khái quát và dẫn dắt tư tưởng từ chính thực tiễn của mình, đồng thời có tiếng nói được quốc tế thừa nhận, chúng ta mới có thể vững vàng hội nhập, giữ vững bản sắc và chủ động định hình con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới; đồng thời góp phần thực hiện thành công các mục tiêu đã được đề ra trong Nghị quyết 57 của Chính phủ về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Có thể bạn quan tâm