Phát triển khoa học cơ bản đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ về thể chế, cơ chế tài trợ, môi trường học thuật và hạ tầng nghiên cứu. Khi các nguồn lực được tổ chức hợp lý và đầu tư đủ dài hạn, các nhóm khoa học mới có điều kiện tích lũy tri thức, theo đuổi những hướng nghiên cứu lớn và từng bước tạo nền tảng cho công nghệ chiến lược.

Đổi mới thể chế để khơi thông sáng tạo

Nhiều nhà khoa học gặp khó khăn không phải vì thiếu ý tưởng hay năng lực nghiên cứu, mà vì cơ chế quản lý chưa đủ linh hoạt để họ theo đuổi những hướng nghiên cứu dài hạn. Những thay đổi chính sách gần đây cho thấy tư duy quản lý đang từng bước chuyển từ kiểm soát từng đề tài sang đầu tư cho năng lực nghiên cứu.

Theo Quyết định số 2555/QĐ-BKHCN ngày 25/5/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Chương trình nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên giai đoạn 2026-2035 (PEBR) sẽ tài trợ theo chu kỳ 5-10 năm, tập trung phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trong những lĩnh vực ưu tiên như AI, bán dẫn, công nghệ lượng tử, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học và năng lượng mới. Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2035 hình thành khoảng 50 nhóm có năng lực dẫn dắt, đồng thời tăng quyền tự chủ, chấp nhận rủi ro khoa học và đánh giá kết quả dựa trên chất lượng, tác động nghiên cứu.

Nghị định số 229/2026/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia đã quy định riêng cơ chế quản trị rủi ro trong tài trợ nghiên cứu khoa học. Theo đó, rủi ro được xem xét ngay từ khi lựa chọn nhiệm vụ, trường hợp đề tài không đạt kết quả cuối cùng nhưng tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy trình chuyên môn và bảo đảm minh bạch thì được xem xét miễn trách nhiệm hành chính, không thu hồi kinh phí theo quy định…

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, các quy định mới sẽ được cụ thể hóa bằng việc đổi mới toàn bộ quy trình quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Khâu xét chọn tập trung đánh giá năng lực của nhóm nghiên cứu, chất lượng đề xuất và mục tiêu khoa học. Đồng thời đẩy mạnh khoán chi, tăng quyền chủ động cho chủ nhiệm nhiệm vụ và tổ chức chủ trì trong điều chỉnh kế hoạch, kinh phí và phương án triển khai phù hợp với thực tế nghiên cứu.

Thay vì kiểm soát chi tiết từng hoạt động chuyên môn, cơ quan quản lý sẽ giám sát theo các mốc kết quả, thực hiện đánh giá giữa kỳ và cuối kỳ. Trường hợp nghiên cứu không đạt kết quả như dự kiến, việc xem xét sẽ dựa trên tính trung thực khoa học, sự tuân thủ quy trình chuyên môn, chất lượng quá trình thực hiện và giá trị tri thức tạo ra, thay vì chỉ căn cứ vào thành công hay thất bại của kết quả cuối cùng.

Cơ chế tuyển chọn, đánh giá và nghiệm thu cũng được định hướng theo chuẩn mực quốc tế, tăng cường sử dụng chuyên gia độc lập, kể cả chuyên gia ngoài nước, coi trọng chất lượng và tác động của kết quả nghiên cứu hơn hồ sơ, thủ tục.

Nghiên cứu điện ma sát để ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Nghiên cứu điện ma sát để ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Bộ Khoa học và Công nghệ xác định PEBR là một trong những chương trình tiên phong thực hiện tinh thần của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025 về quản trị nghiên cứu hiện đại và chấp nhận rủi ro khoa học.

Cùng với đổi mới phương thức quản lý, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng hướng tới xây dựng nền tảng quản trị thống nhất trên môi trường số, kết nối dữ liệu về nhiệm vụ nghiên cứu, quỹ tài trợ, đội ngũ nhà khoa học và hoạt động chuyển giao công nghệ. Theo nhiều chuyên gia, đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư và hình thành hệ sinh thái nghiên cứu hiện đại.

Song song với hoàn thiện cơ chế tài trợ, Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng định hướng nghiên cứu cơ bản đến năm 2035 cho các lĩnh vực toán học-thống kê, vật lý, hóa học, khoa học Trái đất-môi trường và sinh học. Các ưu tiên phải được xác định rõ để tập trung nguồn lực, tránh dàn trải, nhưng vẫn bảo đảm không gian cho cộng đồng khoa học đề xuất những hướng nghiên cứu mới.

Đầu tư dài hạn để nuôi dưỡng khoa học đỉnh cao

Một con chip nghiên cứu chỉ vài centimet vuông có thể trị giá hàng trăm triệu đồng. Giá trị lớn nhất không nằm ở sản phẩm cuối cùng mà ở nhiều năm tích lũy tri thức, xây dựng nhóm nghiên cứu và đầu tư liên tục để tạo ra nó. Những công nghệ như AI, bán dẫn hay vật liệu mới vì vậy không thể hình thành từ các đề tài ngắn hạn hoặc tư duy nhiệm kỳ.

Từ kinh nghiệm hơn 20 năm xây dựng nhóm nghiên cứu về vật liệu và kết cấu tiên tiến, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Nguyễn Đình Đức, Giám đốc Phòng thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, nhiều nhóm khoa học hiện vẫn vận hành theo vòng đời từng đề tài, thiếu nguồn lực ổn định để theo đuổi các hướng nghiên cứu lớn. Trong khi nhiều nghiên cứu nền tảng và công nghệ lõi cần hàng chục năm tích lũy, cơ chế tài chính vẫn chịu ảnh hưởng của “niên độ ngân sách”. Vì vậy, cần hình thành cơ chế tài trợ dài hạn, cạnh tranh và minh bạch với các chu kỳ đủ dài để nhà khoa học theo đuổi những bài toán khó.

Cần hình thành cơ chế tài trợ dài hạn, cạnh tranh và minh bạch với các chu kỳ đủ dài để nhà khoa học theo đuổi những bài toán khó.

Giáo sư, Tiến sĩ khoa học NGUYỄN ĐÌNH ĐỨC
Giám đốc Phòng thí nghiệm Vật liệu và Kết cấu tiên tiến,
nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường đại học Công nghệ (Đại học Quốc gia Hà Nội)

Kinh nghiệm của Mỹ, Singapore, Israel và Trung Quốc cho thấy, không quốc gia nào chờ đến khi cần công nghệ mới bắt đầu đầu tư cho khoa học cơ bản. Điểm chung là duy trì nguồn lực ổn định, phát triển các trung tâm nghiên cứu mạnh và nuôi dưỡng đội ngũ khoa học trình độ cao. Chính quá trình tích lũy đó tạo nên năng lực làm chủ công nghệ trong những giai đoạn sau.

Bên cạnh kinh phí và thiết bị, con người cùng môi trường học thuật là yếu tố quyết định sức sống của một nhóm nghiên cứu. Một hướng khoa học chỉ có thể phát triển lâu dài khi có người dẫn dắt, đội ngũ kế cận và cơ chế tuyển dụng đủ linh hoạt.

Tại nhiều đại học nghiên cứu trên thế giới, chung quanh mỗi giáo sư là một hệ sinh thái nghiên cứu gồm trợ lý nghiên cứu, nghiên cứu sinh, sau tiến sĩ và kỹ sư hỗ trợ. Khi có nguồn tài trợ, các nhóm có thể nhanh chóng tuyển dụng nhân lực, xây dựng phòng thí nghiệm và triển khai các hướng nghiên cứu mới…

Đội ngũ nghiên cứu tại Việt Nam hiện vẫn chủ yếu gắn với cơ chế biên chế dài hạn. Cách tổ chức này tạo sự ổn định nhưng hạn chế khả năng bổ sung lực lượng trẻ, tuyển dụng theo yêu cầu nhiệm vụ và thích ứng với những hướng nghiên cứu mới. Do đó, đầu tư dài hạn cần đi cùng cơ chế sử dụng nhân lực linh hoạt, lấy nhóm nghiên cứu làm hạt nhân.

Một số đại học lớn trong nước đang chuyển từ triển khai từng đề tài riêng lẻ sang đầu tư cho các nhóm nghiên cứu theo định hướng dài hạn. Đại học Quốc gia Hà Nội kiến nghị áp dụng cơ chế cấp kinh phí theo gói, giảm quản lý chi tiết từng khoản chi, tập trung đánh giá năng lực, uy tín và cam kết đầu ra của nhóm nghiên cứu.

Sinh viên ngành vật liệu thông minh và trí tuệ nhân tạo, Đại học Phenikaa thực hành nghiên cứu tại phòng thí nghiệm.

Sinh viên ngành vật liệu thông minh và trí tuệ nhân tạo, Đại học Phenikaa thực hành nghiên cứu tại phòng thí nghiệm.

Thực tế cho thấy, nghiên cứu khoa học cơ bản tạo ra tri thức mới, làm cơ sở cho sự hình thành các công nghệ hiện đại. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, nghiên cứu khoa học cơ bản đồng thời là nguồn gốc của đổi mới sáng tạo và các công nghệ tương lai.

Bên cạnh đó, nghiên cứu khoa học cơ bản góp phần nâng cao năng lực tự chủ của quốc gia. Chính quá trình đầu tư liên tục cho tri thức, đội ngũ và nhóm nghiên cứu tạo ra khả năng hình thành các công nghệ mới trong tương lai.

Nhiều công nghệ hiện đại trên thế giới đều bắt nguồn từ nghiên cứu cơ bản được đầu tư liên tục trong nhiều thập kỷ. Những nghiên cứu ban đầu có thể chưa ứng dụng ngay nhưng sau đó lại trở thành nền tảng của các ngành công nghệ quan trọng, đóng góp trực tiếp cho phát triển kinh tế-xã hội và quốc phòng, an ninh.

Vệ tinh LOTUSat-1 đã hoàn thành chế tạo và Hệ thống mặt đất đã hoàn thành lắp đặt tại Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, khu Công nghệ cao Hòa Lạc.

Vệ tinh LOTUSat-1 đã hoàn thành chế tạo và Hệ thống mặt đất đã hoàn thành lắp đặt tại Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, khu Công nghệ cao Hòa Lạc.

Nghiên cứu cơ bản giúp các nhà khoa học định hình phát triển các hướng nghiên cứu trong tương lai.

Nghiên cứu cơ bản giúp các nhà khoa học định hình phát triển các hướng nghiên cứu trong tương lai.

Liên kết nguồn lực để kiến tạo hệ sinh thái nghiên cứu

Cùng với phòng thí nghiệm và thiết bị, dữ liệu đang trở thành một bộ phận quan trọng của hạ tầng nghiên cứu quốc gia. Nhiều hướng khoa học mới, từ AI, bán dẫn, công nghệ sinh học đến nghiên cứu Trái đất và môi trường đều đòi hỏi các bộ dữ liệu có chất lượng, được duy trì lâu dài và có khả năng kết nối, khai thác.

Yêu cầu này thể hiện rõ trong dự thảo định hướng nghiên cứu cơ bản về Khoa học Trái đất và Môi trường mà Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng. Các nhóm ưu tiên đang được đề xuất gồm khoa học nền tảng cho AI và bản sao số hệ thống Trái đất; quan sát Trái đất và hạ tầng dữ liệu không gian; công nghệ biển sâu và đại dương số; công trình biển và năng lượng ngoài khơi; tài nguyên chiến lược, năng lượng mới và không gian ngầm. Những hướng nghiên cứu này đòi hỏi sự kết nối giữa dữ liệu, hạ tầng quan trắc, mô hình tính toán và nhiều ngành khoa học khác nhau.

Doanh nghiệp công nghệ số tìm hiểu các giải pháp về hạ tầng số và dữ liệu tại Hội nghị Data Center & Cloud Infrastructure Summit 2026.

Doanh nghiệp công nghệ số tìm hiểu các giải pháp về hạ tầng số và dữ liệu tại Hội nghị Data Center & Cloud Infrastructure Summit 2026.

Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn thiếu các bộ dữ liệu nền có chất lượng, được duy trì và cập nhật dài hạn; dữ liệu còn phân tán, thiếu liên thông giữa các bộ, ngành, địa phương và khu vực tư nhân. Đối với doanh nghiệp dữ liệu, bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thông tin tín dụng KCI cho biết, điều quan trọng là xây dựng cơ chế kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu trên cơ sở tin cậy. Đồng thời, cần hoàn thiện hành lang pháp lý và tăng cường kết nối giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Trong đó, Hiệp hội Dữ liệu quốc gia có thể đóng vai trò cầu nối xây dựng các chuẩn chia sẻ dữ liệu, thúc đẩy hợp tác giữa các bên và hỗ trợ hình thành các cơ chế trao đổi dữ liệu phục vụ nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Điều quan trọng là xây dựng cơ chế kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu trên cơ sở tin cậy. Đồng thời, cần hoàn thiện hành lang pháp lý và tăng cường kết nối giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.

Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Thông tin tín dụng KCI
NGUYỄN THỊ TUYẾT NHUNG

Dữ liệu được quản trị như một tài sản quan trọng của hoạt động nghiên cứu. Muốn phát triển AI, bán dẫn hay công nghệ sinh học, Việt Nam cần hình thành các kho dữ liệu về vật liệu, năng lượng, môi trường, y sinh, nông nghiệp và công nghiệp, đồng thời phát triển dữ liệu tiếng Việt, văn hóa và tri thức Việt phục vụ AI tạo sinh. Giá trị của dữ liệu không nằm ở số lượng, mà ở khả năng kết nối và khai thác để tạo ra tri thức mới.

Bên cạnh hạ tầng dữ liệu, hiệu quả của hệ sinh thái nghiên cứu phụ thuộc vào sự liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Các trường đại học và viện nghiên cứu giữ vai trò chính trong tạo ra tri thức mới, trong khi doanh nghiệp có khả năng đưa kết quả nghiên cứu vào công nghệ và sản phẩm. Một số mô hình hợp tác đã bước đầu hình thành trong các lĩnh vực bán dẫn, AI và công nghệ số, với sự tham gia của Bộ Khoa học và Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội cùng các doanh nghiệp như Viettel, VNPT, FPT... trong đào tạo nhân lực và nghiên cứu công nghệ lõi.

Giảng viên Khoa công nghệ điện tử, Trường đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm IoT and AI.

Giảng viên Khoa công nghệ điện tử, Trường đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn sinh viên học tập, nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm IoT and AI.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, thời gian tới cần tập trung đầu tư có trọng điểm đối với các phòng thí nghiệm trọng điểm và những lĩnh vực khoa học có tiềm năng dẫn dắt. Song song đó là thúc đẩy hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp, gắn nghiên cứu với nhu cầu phát triển thực tiễn và tạo điều kiện thu hút chuyên gia giỏi trong và ngoài nước tham gia các chương trình khoa học lớn.

Hệ sinh thái nghiên cứu chỉ phát huy hiệu quả khi hình thành được sự liên kết chặt chẽ giữa Nhà nước, trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Chính sự kết nối này sẽ rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu cơ bản đến công nghệ và sản phẩm…

Theo định hướng mới, các chương trình khoa học và công nghệ cần tập trung giải quyết những bài toán lớn của đất nước, lấy hiệu quả thực tiễn và giá trị đầu ra làm thước đo. Trong hệ sinh thái đó, nghiên cứu cơ bản tạo lập tri thức nền, trường đại học và viện nghiên cứu là nơi sản sinh tri thức, còn doanh nghiệp giữ vai trò chuyển hóa tri thức thành công nghệ và sản phẩm.

Mục tiêu của việc kiến tạo hệ sinh thái nghiên cứu không dừng ở gia tăng số lượng công trình khoa học, mà là xây dựng năng lực nghiên cứu đủ mạnh và bền vững. Điều đó đòi hỏi thể chế phù hợp, đầu tư dài hạn, hạ tầng dữ liệu dùng chung và các nhóm khoa học có khả năng liên kết. Trong đó, con người vẫn là yếu tố quyết định, từ các chuyên gia đầu ngành đến lớp nghiên cứu trẻ kế cận.

E-MAGAZINE
nhandan.vn

Ngày xuất bản: 29/7/2026
Chỉ đạo thực hiện: Đinh Song Linh
Nội dung: Trà My, Bích Liên, Quang Huy, Ngọc Hiếu
Trình bày: Trung Hưng
Ảnh: TTXVN, Bộ Khoa học và Công nghệ, VAST, Viettel IDC