Từ những bản tin chất lượng nước đến “lá chắn mềm” bảo vệ bốn hệ thống thủy lợi trọng điểm phía nam
Khi mặt trời còn chưa kịp ló rạng trên những tuyến kênh ở Đồng bằng sông Cửu Long, những người làm công tác quan trắc đã lên đường. Họ mang theo thiết bị đo, chai lấy mẫu để đi trước dòng nước, tìm kiếm những dấu hiệu đầu tiên của suy giảm chất lượng nguồn nước do tác động của xâm nhập mặn, ô nhiễm nguồn nước.
Nghiên cứu viên Viện Kỹ thuật Biển lấy mẫu nước tại hiện trường phục vụ công tác giám sát, đánh giá chất lượng nguồn nước.
Nghiên cứu viên Viện Kỹ thuật Biển lấy mẫu nước tại hiện trường phục vụ công tác giám sát, đánh giá chất lượng nguồn nước.
Ít ai biết rằng, phía sau những mẫu nước được lấy từ hồ Dầu Tiếng, Quản Lộ-Phụng Hiệp, Tứ giác Long Xuyên hay Cái Lớn-Cái Bé là cả một hệ thống khoa học và quản lý đang vận hành không ngừng. Từ kết quả phân tích đến quyết định đóng mở cống, điều tiết dòng chảy đều hướng tới mục tiêu giữ an toàn nguồn nước cho hàng triệu người dân và diện tích sản xuất lớn ở khu vực phía nam.
Đi trước dòng nước
Chiếc xuồng nhỏ rời bến khi màn sương còn phủ kín mặt kênh. Trên khoang là những chai lấy mẫu, thiết bị đo đa chỉ tiêu, máy định vị GPS và các thùng bảo quản chuyên dụng.
Đó là điểm khởi đầu của mỗi chuyến quan trắc chất lượng nước.
Cán bộ kỹ thuật sử dụng thiết bị đo nhanh để kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng nước tại điểm quan trắc.
Cán bộ kỹ thuật sử dụng thiết bị đo nhanh để kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng nước tại điểm quan trắc.
Anh Nguyễn Thanh Tùng, nghiên cứu viên Viện Kỹ thuật Biển, đã nhiều năm gắn bó với những hành trình xuôi theo các tuyến kênh thuộc Quản Lộ-Phụng Hiệp, Tứ giác Long Xuyên, Cái Lớn-Cái Bé hay lên hồ Dầu Tiếng lấy mẫu.
“Có những hôm phải xuất phát từ ba, bốn giờ sáng. Chỉ cần chậm vài chục phút, mẫu nước sẽ không còn phản ánh đúng diễn biến nguồn nước”, anh kể.
Điều khiến anh nhớ nhất không phải những chuyến đi dài hay cái nắng miền tây, mà là câu hỏi của người dân khi chiếc xuồng cập bến:
“Nước lấy được chưa? Bao giờ mở cống?”.
Một câu hỏi giản dị nhưng phía sau là cả một vụ mùa đang chờ đợi. Nếu độ mặn còn cao, người dân chưa thể lấy nước vào ruộng; nếu nguồn nước chưa bảo đảm, một quyết định vội vàng có thể ảnh hưởng đến sinh kế của hàng nghìn hộ dân.
“Công việc không chỉ là lấy mẫu hay phân tích số liệu. Điều người dân cần là thông tin đủ tin cậy để yên tâm sản xuất”, anh nói.
“Công việc không chỉ là lấy mẫu hay phân tích số liệu. Điều người dân cần là một thông tin đủ tin cậy để yên tâm sản xuất”.
Người dân theo dõi khu vực nuôi tôm. Chất lượng nguồn nước là yếu tố quyết định hiệu quả nuôi trồng thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Người dân theo dõi khu vực nuôi tôm. Chất lượng nguồn nước là yếu tố quyết định hiệu quả nuôi trồng thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo Tiến sĩ Phạm Văn Tùng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Biển, từ năm 2014, đơn vị được giao thực hiện nhiệm vụ giám sát, đánh giá và dự báo chất lượng nước phục vụ quản lý, vận hành bốn hệ thống thủy lợi trọng điểm phía nam gồm hồ Dầu Tiếng, Quản Lộ-Phụng Hiệp, Tứ giác Long Xuyên và Cái Lớn-Cái Bé.
Tiến sĩ Phạm Văn Tùng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Biển
Tiến sĩ Phạm Văn Tùng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Biển
Mỗi mùa khô, các đoàn công tác lấy mẫu tại nhiều vị trí trên toàn hệ thống. Các thông số như độ mặn, pH, ôxy hòa tan được đo ngay tại hiện trường; những chỉ tiêu về chất hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật được phân tích trong phòng thí nghiệm.
Dữ liệu sau đó được tích hợp với thông tin thủy văn, khí tượng và mô hình MIKE 11 để dự báo diễn biến chất lượng nước trong ngắn và trung hạn.
“Điều quan trọng không chỉ là biết hôm nay nước tốt hay xấu, mà phải dự báo được những ngày tới nguồn nước thay đổi ra sao để đơn vị quản lý chủ động vận hành”, Tiến sĩ Phạm Văn Tùng cho biết.
Từ những số liệu ban đầu, công tác quan trắc đã chuyển từ theo dõi hiện trạng sang phục vụ điều hành. Các bản tin chất lượng nước được cập nhật trên hệ thống WebGIS và gửi tới cơ quan quản lý, đơn vị khai thác công trình để làm căn cứ ra quyết định.
Theo ông Nguyễn Hồng Khanh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn và nguy cơ ô nhiễm gia tăng, quản lý thủy lợi không chỉ là quản lý lượng nước mà còn phải kiểm soát chất lượng nước.
Giá trị lớn nhất của các bản tin quan trắc là khả năng cảnh báo sớm, giúp các đơn vị chủ động điều tiết trước khi rủi ro xảy ra.
Từ những mẫu nước được lấy khi bình minh còn chưa lên, hành trình của dữ liệu mới chỉ bắt đầu. Những con số ấy sẽ đi đến phòng điều hành của hồ chứa, cống đập, nơi mỗi quyết định đóng hay mở một cánh cống có thể tác động đến cả một vùng sản xuất rộng lớn.
“Điều quan trọng không chỉ là biết hôm nay nước tốt hay xấu, mà phải dự báo được những ngày tới nguồn nước thay đổi ra sao để đơn vị quản lý chủ động vận hành”.
Khi dữ liệu trở thành quyết định trên dòng nước
“Giá trị lớn nhất của các bản tin quan trắc không chỉ nằm ở việc cung cấp thông tin, mà ở khả năng cảnh báo sớm để các đơn vị chủ động trong vận hành công trình".
Những bản tin chất lượng nước sau khi rời phòng thí nghiệm tiếp tục đến với các đơn vị quản lý, vận hành công trình, trở thành căn cứ để lựa chọn thời điểm lấy nước, điều chỉnh lưu lượng xả hay đóng mở cửa cống.
Theo ông Nguyễn Hồng Khanh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, vận hành hệ thống thủy lợi hiện nay không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm mà phải dựa trên dữ liệu.
Các bản tin giám sát, dự báo chất lượng nước giúp cơ quan quản lý chủ động kiểm soát xâm nhập mặn, hạn chế nguy cơ đưa nguồn nước không bảo đảm vào hệ thống.
Giá trị của dữ liệu không nằm ở những con số, mà ở khả năng giúp người vận hành đi trước biến động của dòng nước.
Hồ Dầu Tiếng-Nơi từng mét khối nước đều được tính toán
Với dung tích gần 1,58 tỷ m³, hồ Dầu Tiếng là công trình thủy lợi lớn nhất cả nước, đồng thời là nguồn cấp nước chiến lược cho khu vực Đông Nam Bộ.
Mỗi quyết định điều tiết tại đây phải tính toán nhiều mục tiêu: bảo đảm nước cho sản xuất, sinh hoạt, công nghiệp, duy trì dòng chảy đẩy mặn và an toàn công trình.
Ông Nguyễn Hữu Mạnh, Giám đốc chi nhánh Dầu Tiếng-Phước Hòa, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác thủy lợi Miền Nam, cho biết điều hành hồ chứa chưa bao giờ chỉ là bài toán về lượng nước.
Hồ Dầu Tiếng với dung tích gần 1,58 tỷ m³, giữ vai trò điều tiết nguồn nước và bảo đảm an ninh nguồn nước khu vực Đông Nam Bộ.
Hồ Dầu Tiếng với dung tích gần 1,58 tỷ m³, giữ vai trò điều tiết nguồn nước và bảo đảm an ninh nguồn nước khu vực Đông Nam Bộ.
“Nếu có nước nhưng chất lượng không bảo đảm thì cũng không thể cấp cho sản xuất hoặc sinh hoạt. Vì vậy, đơn vị luôn theo dõi sát các bản tin chất lượng nước để xây dựng phương án vận hành phù hợp”, ông nói.
Mùa khô năm 2026 tiếp tục đặt ra nhiều áp lực. Công ty phải tính toán cân bằng nguồn nước, bám sát dự báo khí tượng thủy văn và nhu cầu sử dụng của từng địa phương.
Từ đầu năm đến nay, hồ Dầu Tiếng đã điều tiết khoảng 500 triệu m³ nước qua các cống lấy nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp khu vực Đông Nam Bộ.
“Nếu có nước nhưng chất lượng không bảo đảm thì cũng không thể cấp cho sản xuất hoặc sinh hoạt”.
Việc vận hành tràn xả lũ hồ Dầu Tiếng được thực hiện trên cơ sở theo dõi, dự báo thủy văn và quy trình vận hành liên hồ chứa.
Việc vận hành tràn xả lũ hồ Dầu Tiếng được thực hiện trên cơ sở theo dõi, dự báo thủy văn và quy trình vận hành liên hồ chứa.
Cùng với đó, hồ duy trì dòng chảy sau đập trên sông Sài Gòn với lưu lượng 30–36m³/giây, tương đương khoảng 370 triệu m³ nước, góp phần đẩy mặn và bảo đảm nguồn nước thô cho Nhà máy nước Tân Hiệp. Trên sông Vàm Cỏ Đông, lưu lượng khoảng 5m³/giây tiếp tục được duy trì để ngọt hóa vùng hạ du.
Nguồn nước từ hồ Dầu Tiếng được điều tiết về hạ du, phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân khu vực Đông Nam Bộ.
Nguồn nước từ hồ Dầu Tiếng được điều tiết về hạ du, phục vụ sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân khu vực Đông Nam Bộ.
Theo ông Nguyễn Hữu Mạnh, mỗi lần điều tiết đều phải tính đến nhu cầu của hạ du, diễn biến nguồn nước, chất lượng nước và nguy cơ xâm nhập mặn trong những ngày tiếp theo.
Không chỉ trong mùa khô, dữ liệu quan trắc còn hỗ trợ vận hành hồ trong mùa mưa lũ, giúp lựa chọn thời điểm xả nước phù hợp, giảm nguy cơ ảnh hưởng vùng hạ du.
Từ kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm đến quyết định điều tiết hàng trăm triệu mét khối nước là cả một chuỗi phối hợp giữa nhà khoa học, cơ quan quản lý và đơn vị vận hành.
Công tác vận hành hồ Dầu Tiếng được thực hiện trên cơ sở theo dõi diễn biến nguồn nước và các bản tin giám sát, dự báo chất lượng nước.
Công tác vận hành hồ Dầu Tiếng được thực hiện trên cơ sở theo dõi diễn biến nguồn nước và các bản tin giám sát, dự báo chất lượng nước.
Ở hồ Dầu Tiếng, dữ liệu đã trở thành một phần không thể thiếu trong mỗi quyết định. Nhưng càng về hạ lưu, nơi ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn thay đổi từng ngày, vai trò của những bản tin cảnh báo càng trở nên quan trọng.
Ở hạ du hồ Dầu Tiếng, những bản tin ấy không dừng lại ở đơn vị vận hành mà tiếp tục được chuyển đến chính quyền địa phương. Ông Nguyễn Phúc Phong, chuyên viên Phòng Kinh tế xã Lộc Ninh (tỉnh Tây Ninh), cho biết trước mỗi đợt xả lũ hoặc điều tiết nước, địa phương đều nhận được thông báo từ đơn vị quản lý hồ để kịp thời phổ biến tới các ấp và người dân. "Nhờ có thông tin sớm, bà con chủ động thu hoạch, tích nước và bố trí mùa vụ phù hợp. Cùng với nguồn nước ổn định từ hồ Dầu Tiếng, nhiều khu vực trước đây chỉ sản xuất theo thời vụ nay đã có thể chủ động ba vụ mỗi năm".
Đó cũng là câu chuyện tại hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, nơi từng cánh cống phải “đọc” theo nhịp biến động của dòng nước.
Nơi từng cánh cống “đọc” theo những bản tin chất lượng nước
Nếu hồ Dầu Tiếng là nguồn nước chiến lược của vùng Đông Nam Bộ thì hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé là “cánh cửa” điều tiết mặn-ngọt của vùng Tây Nam Bộ.
Tại phòng điều hành Chi nhánh Cái Lớn-Cái Bé, các thông số về mực nước, thủy triều, độ mặn liên tục được cập nhật. Mỗi con số đều gắn với một quyết định quan trọng: khi nào đóng cống, khi nào mở nước.
Lãnh đạo và cán bộ Chi nhánh Cái Lớn-Cái Bé trao đổi phương án vận hành công trình trên cơ sở dữ liệu quan trắc và dự báo chất lượng nguồn nước.
Lãnh đạo và cán bộ Chi nhánh Cái Lớn-Cái Bé trao đổi phương án vận hành công trình trên cơ sở dữ liệu quan trắc và dự báo chất lượng nguồn nước.
Giữ nước ngọt quá lâu có thể ảnh hưởng đến trao đổi nước, nhưng mở cống khi độ mặn còn cao lại tiềm ẩn nguy cơ gây thiệt hại cho sản xuất. Vì vậy, người vận hành không chỉ nhìn vào hiện tại mà phải dự báo diễn biến nguồn nước trong những ngày tiếp theo.
Ông Lê Tự Do, Giám đốc Chi nhánh Đồng bằng Sông Cửu Long, Công ty trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Khai thác Thủy lợi Miền Nam, cho biết các bản tin chất lượng nước là căn cứ quan trọng để đơn vị xây dựng phương án vận hành.
“Chúng tôi không chỉ theo dõi mực nước mà đặc biệt quan tâm đến độ mặn và chất lượng nguồn nước. Các cảnh báo từ cơ quan chuyên môn được đối chiếu với thực tế để lựa chọn thời điểm vận hành phù hợp”, ông nói.
“Điều hành Cái Lớn-Cái Bé không thể chỉ nhìn vào hiện trạng. Nếu quyết định chậm hoặc thiếu chính xác, cơ hội lấy nước ngọt có khi chỉ kéo dài vài giờ”.
Theo ông, trong cao điểm mùa khô, khi xâm nhập mặn diễn biến phức tạp, thông tin dự báo giúp đơn vị chủ động lấy nước ngọt, điều tiết cống và hạn chế nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng.
Thực tế cho thấy biến đổi khí hậu đang khiến xâm nhập mặn xuất hiện sớm hơn, kéo dài hơn, trong khi một số khu vực vẫn tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm cục bộ. Vì vậy, quan trắc ngày nay không chỉ là đo chất lượng nước mà còn phải dự báo nguy cơ.
Công trình cống Cái Lớn-Cái Bé góp phần điều tiết mặn-ngọt, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Công trình cống Cái Lớn-Cái Bé góp phần điều tiết mặn-ngọt, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Theo Tiến sĩ Phạm Văn Tùng, Viện trưởng Viện Kỹ thuật Biển, việc kết hợp dữ liệu thực địa với mô hình MIKE 11 giúp dự báo diễn biến độ mặn, ôxy hòa tan và một số chỉ tiêu chất lượng nước trong ngắn và trung hạn.
“Giá trị của khoa học không nằm ở những con số trong phòng thí nghiệm, mà ở việc giúp người vận hành đưa ra quyết định đúng thời điểm”, ông nói.
Ở Cái Lớn-Cái Bé, những bản tin cảnh báo đã trở thành cơ sở để điều chỉnh thời điểm đóng, mở cống, tận dụng nguồn nước ngọt và bảo vệ sinh kế của người dân.
Với người dân vùng chuyển đổi lúa-tôm, mỗi đợt điều tiết nước đều ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất. Ông Lê Đức Hơn cho biết nhờ việc vận hành cống bám sát diễn biến nguồn nước, người dân chủ động hơn trong lấy nước, nuôi thủy sản và canh tác. Những bản tin cảnh báo không còn là thông tin chuyên môn mà đã trở thành căn cứ để bà con quyết định thời điểm xuống giống hay lấy nước vào ao.
Giữ bình yên từ những dòng nước
Từ Dầu Tiếng, Quản Lộ-Phụng Hiệp đến Tứ giác Long Xuyên và Cái Lớn-Cái Bé, mỗi hệ thống thủy lợi có đặc điểm riêng nhưng cùng chung một yêu cầu: mọi quyết định vận hành phải dựa trên dữ liệu khoa học.
Hệ thống thiết bị phân tích tại phòng thí nghiệm của Viện Kỹ thuật Biển phục vụ giám sát, đánh giá và dự báo chất lượng nước các hệ thống thủy lợi trọng điểm phía nam.
Hệ thống thiết bị phân tích tại phòng thí nghiệm của Viện Kỹ thuật Biển phục vụ giám sát, đánh giá và dự báo chất lượng nước các hệ thống thủy lợi trọng điểm phía nam.
Hơn một thập kỷ qua, những cán bộ Viện Kỹ thuật Biển đã lặng lẽ thu thập hàng nghìn mẫu nước, xây dựng các mô hình dự báo và phát đi những bản tin cảnh báo phục vụ quản lý, vận hành công trình.
Nếu trước đây quan trắc chủ yếu để đánh giá hiện trạng thì nay, dữ liệu chất lượng nước đã trở thành một phần trong quy trình điều hành. Những thông tin này giúp các đơn vị chủ động ứng phó với xâm nhập mặn, ô nhiễm và những biến động bất thường của nguồn nước.
Theo ông Nguyễn Hồng Khanh, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu dùng chung, tăng cường ứng dụng công nghệ số và nâng cao năng lực dự báo để quản lý nguồn nước từ bị động sang chủ động.
Toàn cảnh hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, công trình trọng điểm điều tiết mặn, ngọt, góp phần bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Toàn cảnh hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, công trình trọng điểm điều tiết mặn, ngọt, góp phần bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Ở góc độ nghiên cứu, Tiến sĩ Phạm Văn Tùng cho rằng thách thức trong bảo vệ nguồn nước sẽ ngày càng lớn khi biến đổi khí hậu làm thay đổi quy luật dòng chảy, trong khi nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng.
“Quan trắc chỉ thực sự có giá trị khi những thông tin thu được trở thành hành động cụ thể trong vận hành công trình và quản lý nguồn nước”, ông nhấn mạnh.
Hoàng hôn trên hồ Dầu Tiếng, hồ chứa thủy lợi lớn nhất cả nước, giữ vai trò điều tiết nguồn nước cho khu vực Đông Nam Bộ.
Hoàng hôn trên hồ Dầu Tiếng, hồ chứa thủy lợi lớn nhất cả nước, giữ vai trò điều tiết nguồn nước cho khu vực Đông Nam Bộ.
Nhờ nguồn nước ổn định từ hệ thống thủy lợi, nhiều vùng trồng thanh long đã nâng cao hiệu quả sản xuất và thích ứng tốt hơn với điều kiện thời tiết cực đoan.
Nhờ nguồn nước ổn định từ hệ thống thủy lợi, nhiều vùng trồng thanh long đã nâng cao hiệu quả sản xuất và thích ứng tốt hơn với điều kiện thời tiết cực đoan.
Thực tế tại hồ Dầu Tiếng và Cái Lớn-Cái Bé cho thấy các bản tin chất lượng nước đã trở thành căn cứ để điều tiết nguồn nước, duy trì dòng chảy đẩy mặn, bảo đảm sản xuất và sinh hoạt.
Đằng sau mỗi quyết định ấy là sự phối hợp của nhà khoa học, cơ quan quản lý và những người trực tiếp vận hành công trình.
Chiều muộn trên tuyến kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp, anh Nguyễn Thanh Tùng xếp những chai mẫu cuối cùng lên xe đưa về phòng thí nghiệm.
Người dân mưu sinh trên hệ thống kênh rạch Đồng bằng sông Cửu Long, nơi chất lượng nguồn nước quyết định trực tiếp đến sinh kế và nuôi trồng thủy sản.
Người dân mưu sinh trên hệ thống kênh rạch Đồng bằng sông Cửu Long, nơi chất lượng nguồn nước quyết định trực tiếp đến sinh kế và nuôi trồng thủy sản.
Ngày mai, từ những mẫu nước ấy sẽ hình thành những bản tin mới, tiếp tục đến với những người đang vận hành hồ chứa, cống đập và hệ thống kênh dẫn nước phía nam.
Ít ai biết phía sau mỗi bản tin là công sức của những nhà khoa học, cán bộ quản lý và đội ngũ vận hành công trình. Họ lặng lẽ đi trước những biến động của dòng nước để mỗi quyết định lấy nước, đóng cống, điều tiết dòng chảy đều có cơ sở khoa học.
Những cánh đồng lúa chín vàng ở Đồng bằng sông Cửu Long, thành quả của việc chủ động điều tiết và bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất.
Những cánh đồng lúa chín vàng ở Đồng bằng sông Cửu Long, thành quả của việc chủ động điều tiết và bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất.
Bảo vệ an ninh nguồn nước bắt đầu từ những mẫu nước được lấy đúng thời điểm, những phép đo chính xác và những cảnh báo được gửi đi kịp lúc. Đó chính là “lá chắn mềm” đang âm thầm bảo vệ những dòng nước, gìn giữ sinh kế của hàng triệu người dân và tạo nền tảng phát triển bền vững cho khu vực phía nam
Chỉ đạo nội dung: Khánh Sơn
Tổ chức sản xuất: Khánh Sơn-Thu Hà
Kịch bản: Anh Trường-Thu Hà-Hồng Tâm
Hình ảnh: Anh Trường-Mai Tạo
Trình bày: Anh Trường