Trong khoa học hiện đại, năng lực tự chủ được hình thành trên cơ sở chủ động kết nối và tiếp thu tri thức của nhân loại. Tham gia các mạng lưới nghiên cứu quốc tế giúp Việt Nam tiếp cận tri thức, phương pháp và hạ tầng tiên tiến, đồng thời phát triển đội ngũ, nâng cao năng lực nghiên cứu và từng bước cùng tạo ra tri thức mới.

Cùng với hoàn thiện thể chế, đổi mới phương thức đầu tư và phát triển đội ngũ, Việt Nam cần mở rộng không gian nghiên cứu thông qua việc tham gia sâu hơn vào các mạng lưới khoa học toàn cầu. Hợp tác quốc tế tạo điều kiện để các nhà khoa học tiếp cận tri thức, phương pháp và hạ tầng tiên tiến, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu trong nước.

Mục tiêu tổng quát là xây dựng nền nghiên cứu khoa học cơ bản Việt Nam hiện đại, tự chủ, hội nhập, có trọng tâm, có khả năng tạo ra tri thức mới, đào tạo nguồn nhân lực tinh hoa, cung cấp luận cứ chiến lược cho hoạch định đường lối, chính sách và làm nền tảng cho phát triển công nghệ chiến lược, phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước
TÔ LÂM

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, đến năm 2030 triển khai ít nhất 100 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu quốc tế với sự tham gia thực chất của các đối tác nghiên cứu nước ngoài; đến năm 2035 triển khai ít nhất 300 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu quốc tế. Mỗi nhóm nghiên cứu mạnh có ít nhất 1 đối tác quốc tế chiến lược.

Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, các viện nghiên cứu, trường đại học đã coi hợp tác quốc tế là một phương thức quan trọng để nâng cao tiềm lực khoa học. Giai đoạn 2023-2025, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam triển khai hơn 100 nhiệm vụ, dự án quốc tế, hình thành hơn 20 nhóm nghiên cứu quốc tế và 10 phòng thí nghiệm liên kết. Đồng thời tổ chức hơn 100 hội nghị, hội thảo và lớp học quốc tế với khoảng 3.000 lượt nhà khoa học tham gia.

Một số mô hình hợp tác dài hạn đã góp phần tạo lập môi trường nghiên cứu và đào tạo quốc tế ngay tại Việt Nam. Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội được phát triển trên cơ sở liên kết với hơn 40 viện nghiên cứu, trường đại học của Pháp; triển khai các chương trình song bằng, giảng dạy bằng tiếng Anh và mở rộng đào tạo trong các lĩnh vực như vi mạch bán dẫn, khoa học vũ trụ, kỹ thuật hàng không. Mô hình này cho thấy hợp tác quốc tế có thể được tổ chức thành một hệ sinh thái gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu và phát triển nhân lực.

Trong nghiên cứu cơ bản, Trung tâm quốc tế Đào tạo-Nghiên cứu Toán học (ICRTM) và Trung tâm Vật lý quốc tế (ICP) đã trở thành những đầu mối kết nối cộng đồng khoa học Việt Nam với các mạng lưới học thuật trong khu vực và trên thế giới. Các chương trình sau đại học, hội nghị chuyên môn và hoạt động trao đổi tại đây mở thêm cơ hội hợp tác cho các nhà khoa học trẻ. Việc UNESCO đồng ý về nguyên tắc tiếp tục bảo trợ hai trung tâm trong giai đoạn 2026-2032 khẳng định một số tổ chức khoa học trong nước đã từng bước đáp ứng các chuẩn mực quốc tế.

Tại Diễn đàn khoa học lượng tử tại Liên bang Nga.

Tại Diễn đàn khoa học lượng tử tại Liên bang Nga.

Cùng với mở rộng mạng lưới học thuật, nội dung hợp tác đang chuyển sang các lĩnh vực công nghệ chiến lược. Tại Diễn đàn kỷ niệm 35 năm quan hệ Đối thoại ASEAN-Liên bang Nga tổ chức tại Kazan, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đề xuất tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực AI, công nghệ lượng tử, công nghệ vũ trụ và vệ tinh quỹ đạo tầm thấp, đồng thời gia tăng các nhiệm vụ nghiên cứu chung được hai bên đồng tài trợ.

Hợp tác quốc tế đang chuyển từ trao đổi học thuật sang đồng tài trợ, đồng nghiên cứu và cùng phát triển đội ngũ. Việc trực tiếp tham gia các chương trình nghiên cứu chung giúp nhà khoa học Việt Nam tiếp cận tri thức nguồn, phương pháp tiên tiến và chuẩn mực khoa học quốc tế.

Các nhà khoa học Việt Nam tham gia Diễn đàn khoa học về công nghệ lượng tử tại Liên bang Nga.

Các nhà khoa học Việt Nam tham gia Diễn đàn khoa học về công nghệ lượng tử tại Liên bang Nga.

Tuy nhiên, sự chuyển đổi này chưa diễn ra đồng đều. Hoạt động hợp tác ở một số nơi vẫn còn dàn trải, thiên về ký kết biên bản ghi nhớ, tổ chức hội thảo và trao đổi ngắn hạn, trong khi các dự án đồng nghiên cứu, cùng phát triển kết quả và tạo ra năng lực có thể duy trì sau hợp tác còn hạn chế.

Yêu cầu hội nhập cũng được đặt ra ngay trong quá trình xây dựng định hướng nghiên cứu. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hoàng Nam, Giám đốc Trung tâm Nano và Năng lượng, Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội), định hướng nghiên cứu cơ bản trong lĩnh vực vật lý ưu tiên các ngành nền tảng như vật lý lượng tử, vật liệu tiên tiến, quang học, vật lý tính toán, khoa học dữ liệu và AI, đồng thời chú trọng phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm xuất sắc và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế.

Tại Diễn đàn khoa học lượng tử tại Liên bang Nga.

Tại Diễn đàn khoa học lượng tử tại Liên bang Nga.

Kết nối với các nguồn lực tri thức quốc tế mới là bước đầu. Giá trị của hợp tác phụ thuộc vào khả năng tiếp nhận, làm chủ và tiếp tục phát triển những tri thức, phương pháp và công nghệ được tiếp cận bằng chính đội ngũ, hạ tầng và năng lực nghiên cứu trong nước.

Thực tế, các đối tác quốc tế đang tham gia ngày càng sâu vào nhiều khâu của hệ sinh thái khoa học Việt Nam, từ nghiên cứu cơ bản, đào tạo nhân lực đến phát triển công nghệ chiến lược. Qua đó, các nhà khoa học trong nước có thêm cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu mới, hạ tầng hiện đại và các mạng lưới học thuật toàn cầu.

Gặp gỡ Quy Nhơn lần thứ 8 - Hội nghị quốc tế Sinh học 2025.

Gặp gỡ Quy Nhơn lần thứ 8 - Hội nghị quốc tế Sinh học 2025.

Tuy nhiên, khả năng tiếp nhận và làm chủ tri thức sau hợp tác vẫn còn hạn chế do đội ngũ chuyên gia ở một số lĩnh vực còn mỏng, hạ tầng nghiên cứu chưa đồng bộ, sự liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp chưa chặt chẽ. Vì vậy, hợp tác quốc tế cần được lựa chọn theo thế mạnh của từng đối tác và những năng lực Việt Nam còn thiếu, thay vì triển khai dàn trải hoặc theo một mô hình chung.

Mỗi đối tác có lợi thế riêng về khoa học cơ bản, vật liệu, bán dẫn, công nghệ sinh học, năng lượng hay phát triển sản phẩm. Hiệu quả hợp tác trước hết phụ thuộc vào việc Việt Nam xác định rõ bài toán cần giải quyết, chuẩn bị đội ngũ tiếp nhận và tổ chức các chương trình đủ dài để tri thức được tích lũy, chuyển hóa thành năng lực nghiên cứu trong nước.

Khai trương Trung tâm Nghiên cứu-Phát triển-Đào tạo về khoa học và công nghệ phân tích (Trung tâm Analytical R&E) tại Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội vào tháng 11/2025.

Khai trương Trung tâm Nghiên cứu-Phát triển-Đào tạo về khoa học và công nghệ phân tích (Trung tâm Analytical R&E) tại Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội vào tháng 11/2025.

Một hướng hợp tác như vậy đang được triển khai giữa Việt Nam và Nhật Bản. Trong khuôn khổ dự án SATREPS EDFEN, Trung tâm Nghiên cứu-Phát triển-Đào tạo về khoa học và công nghệ phân tích do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tài trợ hình thành tại Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội nhằm phục vụ nghiên cứu, đào tạo và ứng dụng các phương pháp phân tích trong giám sát môi trường, an toàn thực phẩm, chất lượng nước và không khí. Hợp tác quốc tế không dừng ở chuyển giao thiết bị, kỹ thuật mà còn góp phần phát triển đội ngũ, cơ sở nghiên cứu và cung cấp căn cứ khoa học cho hoạch định chính sách.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Lĩnh vực sinh dược-mỹ phẩm là một thí dụ. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho biết, các đơn vị nghiên cứu trong nước đã làm chủ nhiều khâu, từ chiết tách, phân lập, xác định cấu trúc đến đánh giá hoạt tính sinh học của các hợp chất, nhất là những hợp chất được khai thác từ nguồn dược liệu phong phú, đặc hữu. Đây là nền tảng để phát triển các sản phẩm có giá trị cao.

Song năng lực chế biến sâu, bào chế, tiêu chuẩn hóa hoạt chất và hoàn thiện sản phẩm theo chuẩn quốc tế vẫn còn hạn chế. Trong khi đó, Hàn Quốc có thế mạnh trong tổ chức chuỗi từ nghiên cứu, sản xuất đến thị trường. Việc xây dựng phòng thí nghiệm chung, triển khai các chương trình đồng nghiên cứu và đồng phát triển sản phẩm có thể giúp hai bên bổ sung năng lực, từng bước đưa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm sinh dược-mỹ phẩm có sức cạnh tranh.

Nghiên cứu về gene người trong lĩnh vực công nghệ sinh học giúp hỗ trợ điều trị các bệnh hiếm.

Nghiên cứu về gene người trong lĩnh vực công nghệ sinh học giúp hỗ trợ điều trị các bệnh hiếm.

Yêu cầu tương tự cũng đặt ra trong lĩnh vực hydrogen. Việt Nam đã bước đầu nghiên cứu vật liệu lưu trữ và các chất mang hydrogen, nhưng phần lớn kết quả vẫn dừng ở quy mô phòng thí nghiệm. Hàn Quốc đã phát triển tương đối đồng bộ các khâu từ nghiên cứu vật liệu, công nghệ lưu trữ đến tích hợp hệ thống và ứng dụng trong công nghiệp, giao thông.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, nếu được triển khai thông qua các chương trình hợp tác dài hạn và những dự án thí điểm cụ thể, hai bên có thể từng bước đưa kết quả nghiên cứu lên quy mô ứng dụng. Qua đó, Việt Nam vừa tiếp cận kinh nghiệm và công nghệ tiên tiến, vừa tích lũy năng lực để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hydrogen.

Cán bộ Trường đại học Điện lực thăm Phòng thí nghiệm Vi mạch bán dẫn tại Đại học Inha, Hàn Quốc.

Cán bộ Trường đại học Điện lực thăm Phòng thí nghiệm Vi mạch bán dẫn tại Đại học Inha, Hàn Quốc.

Kinh nghiệm của Hàn Quốc cũng cho thấy, khả năng tiếp nhận và phát triển công nghệ phụ thuộc nhiều vào sự tham gia của doanh nghiệp. Các tập đoàn lớn duy trì đầu tư dài hạn cho nghiên cứu và phát triển, xây dựng mạng lưới phòng thí nghiệm, đồng thời phối hợp trường đại học đào tạo nhân lực theo nhu cầu công nghiệp. Theo Báo cáo Phát triển bền vững năm 2025, Samsung dành khoảng 35 nghìn tỷ won cho nghiên cứu và phát triển, vận hành 40 trung tâm nghiên cứu và phối hợp với Đại học Sungkyunkwan đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong các lĩnh vực bán dẫn, hiển thị và truyền thông số. Nhiều doanh nghiệp Hàn Quốc khác cũng triển khai các chương trình học bổng, thực tập và đào tạo gắn với nhu cầu sản xuất.

Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản, Đại Học Bách khoa Hà Nội và Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia triển khai chương trình tăng cường nghiên cứu AI và phát triển nguồn nhân lực.

Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản, Đại Học Bách khoa Hà Nội và Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia triển khai chương trình tăng cường nghiên cứu AI và phát triển nguồn nhân lực.

Doanh nghiệp đầu tàu cần tham gia từ sớm vào quá trình xác định bài toán, nghiên cứu, đào tạo và sử dụng nhân lực trình độ cao. Sự tham gia đó tạo điều kiện để tri thức từ viện nghiên cứu, trường đại học được tiếp tục phát triển thành công nghệ, sáng chế và sản phẩm.

Đối với Việt Nam, tinh thần của Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu gắn hợp tác quốc tế với các lĩnh vực ưu tiên, nhóm nghiên cứu mạnh và đội ngũ nhân lực kế cận. Mỗi chương trình hợp tác cần được đánh giá bằng những năng lực có thể tiếp tục duy trì sau khi dự án kết thúc, từ đội ngũ, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu, quy trình kỹ thuật đến khả năng làm chủ những khâu công nghệ then chốt.

Nghiên cứu về gene người trong lĩnh vực công nghệ sinh học giúp hỗ trợ điều trị các bệnh hiếm.

Nghiên cứu về gene người trong lĩnh vực công nghệ sinh học giúp hỗ trợ điều trị các bệnh hiếm.

Khi tri thức từ bên ngoài được tiếp nhận và phát triển bằng nguồn lực trong nước, hợp tác quốc tế sẽ góp phần nâng cao năng lực tự chủ. Từ đó, các nhà khoa học Việt Nam có thể từng bước chuyển từ tham gia sang cùng đề xuất ý tưởng, đồng nghiên cứu và tạo ra tri thức mới. Điều đó đòi hỏi phía Việt Nam tham gia đầy đủ vào quá trình hợp tác, từ xác định câu hỏi, thiết kế nhiệm vụ, triển khai nghiên cứu đến công bố, bảo hộ sở hữu trí tuệ và tiếp tục phát triển kết quả. Đây cũng là cơ sở để nâng cao chất lượng hợp tác và tích lũy lâu dài năng lực nghiên cứu trong nước.

Học sinh Việt Nam giành hai giải nhì tại chung kết Robotics toàn cầu 2026.

Học sinh Việt Nam giành hai giải nhì tại chung kết Robotics toàn cầu 2026.

Hợp tác giữa Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với các đối tác Nga khẳng định giá trị của những chương trình được duy trì bền bỉ. Các nhiệm vụ chung trong lĩnh vực biển, vật liệu, công nghệ sinh học, khoa học Trái đất, vật lý hạt nhân và năng lượng cao đã tạo ra nhiều kết quả khoa học, đồng thời góp phần đào tạo đội ngũ trẻ và nâng cao năng lực nghiên cứu.

Thông qua hợp tác với Viện Liên hiệp Nghiên cứu hạt nhân Dubna, nhiều nhà khoa học Việt Nam được tiếp cận hạ tầng nghiên cứu lớn, tham gia các nhóm quốc tế và làm việc trong những lĩnh vực tiên tiến. Hiệu quả hợp tác cần được đánh giá bằng khả năng cùng tạo ra tri thức, công nghệ và các thế hệ nhà khoa học mới, thay vì chỉ dựa vào số chương trình đào tạo hay lượt trao đổi.

Để mở rộng những mô hình như vậy, Việt Nam cần lựa chọn các hướng nghiên cứu phù hợp, tập trung nguồn lực cho những nhóm có năng lực và thu hút các nhà khoa học uy tín trong, ngoài nước tham gia dẫn dắt. Khi một nhóm nghiên cứu tạo dựng được uy tín, nhóm đó có thể mở rộng mạng lưới hợp tác, thu hút thêm nhân lực và đóng góp trở lại cho hệ sinh thái khoa học trong nước.

Xe không người lái trình diễn tại Diễn đàn Quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam 2025.

Xe không người lái trình diễn tại Diễn đàn Quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam 2025.

Hướng dẫn thực hành phòng, chống các đợt tấn công trên không gian mạng tại Đại học Phenikaa.

Hướng dẫn thực hành phòng, chống các đợt tấn công trên không gian mạng tại Đại học Phenikaa.

Giáo sư Emilie Allard-Vannier, Đại học Tours (Pháp) hướng dẫn sinh viên Trường đại học Khoa học sức khỏe (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) làm thí nghiệm.

Giáo sư Emilie Allard-Vannier, Đại học Tours (Pháp) hướng dẫn sinh viên Trường đại học Khoa học sức khỏe (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) làm thí nghiệm.

Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện Toán học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho rằng, hợp tác quốc tế là điều kiện cần thiết để phát triển nghiên cứu cơ bản, nhất là khi nguồn lực trong nước còn hạn chế. Việt Nam có thể thu hút những nhà khoa học quốc tế có năng lực, kinh nghiệm và mong muốn gắn bó lâu dài. Điều quan trọng là bảo đảm điều kiện làm việc, môi trường học thuật và cơ chế phù hợp để họ tham gia nghiên cứu, đào tạo đội ngũ kế cận và hỗ trợ xây dựng các hướng khoa học mới.

Cùng với các viện nghiên cứu, trường đại học giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành đội ngũ có khả năng tham gia và từng bước dẫn dắt các chương trình hợp tác quốc tế. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đang phát triển các chương trình liên ngành về bán dẫn, AI, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin, mở rộng liên kết quốc tế, chương trình cấp bằng chung và đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu và nhu cầu của doanh nghiệp.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Cao Vinh, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhà trường hướng tới đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực mũi nhọn, đồng thời tạo điều kiện để người học tham gia nghiên cứu và công bố khoa học ngay từ bậc đại học. Việc gắn đào tạo với các nhóm nghiên cứu và chương trình hợp tác quốc tế giúp người học sớm tiếp cận phương pháp, chuẩn mực học thuật và những bài toán khoa học mới. Nhà trường cũng đang tăng cường liên kết với doanh nghiệp và các nhóm nghiên cứu, tạo điều kiện để kết quả khoa học được tiếp tục phát triển và thử nghiệm trong các lĩnh vực chiến lược.

Hướng dẫn thực hành phòng, chống các đợt tấn công trên không gian mạng tại Đại học Phenikaa.

Hướng dẫn thực hành phòng, chống các đợt tấn công trên không gian mạng tại Đại học Phenikaa.

Hợp tác Việt Nam-Nhật Bản cũng đang mở rộng theo hướng gắn đào tạo với các lĩnh vực công nghệ mới. Từ năm 2025, JICA phối hợp Đại học Bách khoa Hà Nội và các đối tác Nhật Bản triển khai chương trình Trí tuệ người tiêu dùng toàn cầu (Global Consumer Intelligence), giúp sinh viên tiếp cận kiến thức về AI, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Cùng với các chương trình đào tạo về bán dẫn tại Trường đại học Việt-Nhật, những mô hình này góp phần chuẩn bị nguồn nhân lực có khả năng tham gia nghiên cứu, tiếp nhận và tiếp tục phát triển công nghệ trong các ngành chiến lược.

Giáo sư Matsuo, Đại học Tokyo (Nhật Bản) trực tiếp giảng dạy cho khoảng 300 sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội vào tháng 9/2025.

Giáo sư Matsuo, Đại học Tokyo (Nhật Bản) trực tiếp giảng dạy cho khoảng 300 sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội vào tháng 9/2025.

Trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, trường đại học không dừng ở đào tạo nhân lực sử dụng công nghệ, mà cần trở thành nơi tạo ra tri thức, phát triển công nghệ và hình thành đội ngũ có khả năng tiếp tục hoàn thiện kết quả nghiên cứu. Nếu chỉ sử dụng công nghệ, Việt Nam vẫn phụ thuộc. Muốn từng bước làm chủ công nghệ, trước hết phải nâng cao năng lực nghiên cứu và đào tạo đội ngũ khoa học trình độ cao.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

Để hình thành đội ngũ như vậy, cơ chế sử dụng nhân lực cần linh hoạt hơn, gắn với nhiệm vụ và nhóm nghiên cứu. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Văn Trung, Viện trưởng Viện Vật lý (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) chia sẻ, bên cạnh tăng đầu tư, Việt Nam cần đổi mới cách tổ chức đội ngũ nghiên cứu. Tại nhiều đại học trên thế giới, các giáo sư được hỗ trợ bởi nghiên cứu sinh, nhà khoa học sau tiến sĩ, trợ lý nghiên cứu và kỹ sư, nhờ đó có thể nhanh chóng triển khai các hướng nghiên cứu mới khi có nguồn tài trợ.

Giáo sư Emilie Allard-Vannier, Đại học Tours (Pháp) hướng dẫn sinh viên Trường đại học Khoa học sức khỏe (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) làm thí nghiệm.

Giáo sư Emilie Allard-Vannier, Đại học Tours (Pháp) hướng dẫn sinh viên Trường đại học Khoa học sức khỏe (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) làm thí nghiệm.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh cần tập trung vào các nhóm giải pháp chủ yếu. Trong đó, có đẩy mạnh hợp tác quốc tế có chọn lọc. Thu hút chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài, trí thức Việt Nam ở nước ngoài, hợp tác với các trung tâm khoa học hàng đầu để nâng chuẩn nghiên cứu, đào tạo đội ngũ kế cận và rút ngắn khoảng cách tri thức; đồng thời bảo vệ dữ liệu, tài sản trí tuệ, an ninh tri thức và lợi ích quốc gia.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp ngày 30/7/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp ngày 30/7/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Việt Nam đang tạo điều kiện để các nhà khoa học trẻ được đào tạo ở nước ngoài, trí thức Việt Nam trên thế giới và chuyên gia quốc tế tham gia các chương trình nghiên cứu trong nước. Theo các chuyên gia, chính sách thu hút nhân lực chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng môi trường học thuật cởi mở, cơ sở nghiên cứu phù hợp và cơ hội phát triển lâu dài.

Hội nhập quốc tế cần chuyển dần từ tiếp nhận, chuyển giao sang đồng nghiên cứu và cùng sáng tạo, trong đó các nhà khoa học Việt Nam tham gia đầy đủ từ đề xuất ý tưởng, thiết kế nhiệm vụ, tổ chức thực hiện đến tạo ra và tiếp tục phát triển kết quả. Qua đó, hợp tác vừa mở rộng không gian tri thức, vừa đào tạo đội ngũ và bồi đắp năng lực nghiên cứu trong nước.

Nghiên cứu cơ bản chưa tạo ra kết quả tức thời, nhưng quyết định chiều sâu tri thức, chất lượng nhân lực và khả năng làm chủ công nghệ của mỗi quốc gia. Vì vậy, cùng với tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, đổi mới phương thức đầu tư và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, Việt Nam cần xây dựng một hệ sinh thái đủ sức nuôi dưỡng những hướng khoa học dài hạn và mở rộng hợp tác quốc tế.

Trong hệ sinh thái đó, hội nhập giúp Việt Nam tiếp nhận tri thức, làm chủ phương pháp, phát triển đội ngũ và hạ tầng nghiên cứu, từng bước cùng tạo ra những kết quả khoa học mới. Với nguồn lực quốc tế được kết nối và phát huy bằng nội lực trong nước, khoa học cơ bản sẽ phát huy vai trò nền móng đối với năng lực tự chủ, các công nghệ chiến lược và sự phát triển bền vững của đất nước.

Ngày xuất bản: 31/7/2026
Chỉ đạo thực hiện: Đinh Song Linh
Nội dung: Trà My, Bích Liên, Quang Huy, Ngọc Hiếu
Trình bày: Trung Hưng
Ảnh: Đăng Khoa, TTXVN, JICA, VAST, UHS

E-MAGAZINE
nhandan.vn