Nhân lực là yếu tố quyết định sức mạnh của một nền khoa học. Để hình thành những nhóm nghiên cứu mạnh và từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược, Việt Nam cần xây dựng một quá trình liên tục từ phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng đến sử dụng và giữ chân nhân tài, đồng thời tạo môi trường để các nhà khoa học trẻ phát triển lâu dài.
Nhân lực - điểm nghẽn chiến lược
Không quốc gia nào có thể làm chủ AI, bán dẫn hay công nghệ lượng tử nếu thiếu nhiều thế hệ nhà khoa học được đào tạo bài bản và kế thừa liên tục. Vì vậy, phát triển nhân lực khoa học là một phần quan trọng trong chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh và tự chủ quốc gia.
Một nền nghiên cứu cơ bản vững mạnh trước hết cần đội ngũ có khả năng tạo ra tri thức mới, dẫn dắt các hướng nghiên cứu và đào tạo lực lượng kế cận. Quá trình phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài phải bắt đầu từ sớm, được duy trì trong một môi trường học thuật có chất lượng và có lộ trình phát triển nghề nghiệp rõ ràng.
Thời gian qua, nhiều cơ chế, chính sách về tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao đã được ban hành. Quyết định số 2103/QĐ-BKHCN ngày 13/4/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ cho phép áp dụng các thỏa thuận về tiền lương, tiền thưởng, hỗ trợ sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe, ưu tiên tuyển dụng và phát triển nhóm nghiên cứu mạnh.
Trong lĩnh vực đào tạo, cả nước hiện có hơn 771 nghìn người học các ngành STEM, chiếm khoảng 29% quy mô giáo dục đại học; hơn 475 nghìn sinh viên theo học chính quy tại 15 nhóm ngành ưu tiên. Theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP, người học tại 109 ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược có thể được hưởng học bổng từ 3,7 triệu đến 8,4 triệu đồng mỗi tháng. Dự kiến trong mùa tuyển sinh năm 2026, khoảng 30 nghìn đến 32 nghìn sinh viên được tiếp cận chính sách này.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã phê duyệt 90 chương trình đào tạo kỹ sư, thạc sĩ tài năng và 59 chương trình về vi mạch bán dẫn. Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc, đồng thời từng bước hoàn thiện cơ chế thu hút chuyên gia đầu ngành, Tổng công trình sư và Kiến trúc sư trưởng.
Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn vẫn còn đáng kể. Việc thu hút và sử dụng nhân tài chưa gắn chặt với các nhiệm vụ khoa học trọng điểm, điều kiện nghiên cứu, cơ chế đánh giá theo kết quả và cơ hội phát triển lâu dài. Chính sách đãi ngộ có thể tạo sức hút ban đầu, nhưng để nhà khoa học gắn bó, họ cần được giao những bài toán có ý nghĩa, tiếp cận hạ tầng hiện đại, làm việc trong các nhóm nghiên cứu mạnh và có quyền tự chủ học thuật.
Báo cáo tại Hội nghị sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đánh giá, hệ thống cơ chế, chính sách đã từng bước được hoàn thiện với nhiều giải pháp đặc thù về tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân lực chất lượng cao. Trong đó có các cơ chế thu hút chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và an ninh mạng vào khu vực công, tạo nền tảng để phát triển đội ngũ nhân lực khoa học trong giai đoạn mới.
Đối với khoa học cơ bản, bài toán nhân lực khó hơn do chu kỳ đào tạo dài, yêu cầu chuyên môn sâu và phụ thuộc nhiều vào môi trường nghiên cứu. Chẳng hạn, trong khoa học vật liệu, một nhà khoa học cần kiến thức về vật lý, hóa học, công nghệ chế tạo, mô phỏng, AI và yêu cầu của sản xuất. Để hình thành một chuyên gia có khả năng dẫn dắt hướng nghiên cứu thường cần từ 15 đến 20 năm đào tạo và tích lũy.
Nhu cầu nhân lực cũng thay đổi nhanh theo xu hướng liên ngành. Theo các nhà khoa học, đối với toán học, bên cạnh các lĩnh vực nền tảng, cần phát triển nhân lực cho toán học tính toán, khoa học dữ liệu, AI, mật mã, tính toán lượng tử và mật mã kháng lượng tử. Yêu cầu tương tự cũng đặt ra trong sinh học hiện đại. Các hướng ưu tiên gồm sinh học tổng hợp, dữ liệu sinh học số, chỉnh sửa gene, vaccine thế hệ mới, an toàn sinh học và ứng dụng AI. Những lĩnh vực này đòi hỏi đội ngũ có khả năng làm việc tại giao điểm giữa sinh học, khoa học dữ liệu và sinh học tính toán.
Từ bậc đại học đến sau tiến sĩ, một người trẻ có thể mất hơn mười năm mới đủ năng lực chủ trì một hướng nghiên cứu độc lập. Trong quá trình đó, họ cần người hướng dẫn giỏi, nhóm nghiên cứu để trưởng thành, phòng thí nghiệm và nguồn kinh phí ổn định. Chỉ một mắt xích bị gián đoạn cũng có thể làm đứt gãy quá trình tích lũy tri thức nhiều năm.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm, Viện trưởng Viện Khoa học vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cho rằng, một trong những rào cản hiện nay là môi trường nghiên cứu chưa đủ sức cạnh tranh. Nhiều nhà khoa học trẻ sau khi được đào tạo ở nước ngoài trở về vẫn khó tiếp cận thiết bị hiện đại, nguồn tài chính linh hoạt và điều kiện theo đuổi các hướng nghiên cứu dài hạn. Với khoa học vật liệu, thiếu thiết bị chuyên sâu sẽ hạn chế trực tiếp khả năng tạo ra những kết quả có giá trị.
Việt Nam cũng chưa hình thành được một con đường nghề nghiệp khoa học đủ rõ ràng và hấp dẫn. Nhiều sinh viên xuất sắc có thể lựa chọn lĩnh vực công nghệ, tài chính hoặc các tập đoàn quốc tế với thu nhập và cơ hội phát triển tốt hơn. Trong khi đó, khoa học cơ bản đòi hỏi thời gian đào tạo dài, nhưng vị trí việc làm, chế độ đãi ngộ và triển vọng nghề nghiệp chưa đủ tạo niềm tin để người trẻ gắn bó.
Từ góc nhìn lịch sử, Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện Toán học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) nhận định, nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam được hình thành khá sớm trong một số lĩnh vực như toán học và vật lý, nhưng phát triển trong điều kiện thiếu đồng bộ. Một số ngành đã xây dựng được đội ngũ khá tốt, song sự liên kết với công nghệ và công nghiệp còn hạn chế, khiến tri thức chưa được chuyển hóa nhiều thành công nghệ, sản phẩm.
Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện Toán học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Hồ Hải, nguyên Viện trưởng Viện Toán học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)
Dù vậy, đóng góp quan trọng của nghiên cứu cơ bản là đào tạo đội ngũ có tư duy khoa học, khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp và tiếp cận các lĩnh vực công nghệ mới. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Hồ Hải, để phát huy nguồn lực này, cần tiếp tục bồi đắp tính chuyên nghiệp và văn hóa học thuật; khuyến khích người học đặt câu hỏi, tranh luận, phản biện và chủ động tìm cách tiếp cận mới. Một nền khoa học mạnh cần đội ngũ giỏi cùng môi trường tôn trọng tư duy độc lập, sự trung thực và tinh thần phản biện.
Vì vậy, tháo gỡ điểm nghẽn nhân lực không thể dừng ở học bổng hay chế độ đãi ngộ. Điều cần thiết là xây dựng một hệ sinh thái liên tục từ phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng đến sử dụng, trọng dụng và giữ chân nhân tài. Đây cũng là tinh thần của Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ phát triển giáo dục tinh hoa, xây dựng hệ sinh thái đào tạo nhân tài và gắn đào tạo với các lĩnh vực khoa học, công nghệ chiến lược.
Nuôi dưỡng nhân tài từ giảng đường đến phòng thí nghiệm
Muốn có những công nghệ đột phá trong tương lai, trước hết phải đào tạo được các thế hệ nhà khoa học từ hôm nay. Vì vậy, nghiên cứu cơ bản vừa là nơi tạo ra tri thức mới, vừa là môi trường hình thành nguồn nhân lực khoa học chất lượng cao.
Tại Hội nghị sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặc biệt lưu ý nhiệm vụ chuẩn bị nguồn nhân lực ngay từ năm học mới. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, muốn 10 năm sau có đội ngũ cán bộ phát triển khoa học công nghệ thì ngay từ năm nay phải đặt vấn đề học ngành gì, học khoa học cơ bản gì, đào tạo ra sao. Nguồn nhân lực không thể tự nhiên có, mà phải đầu tư từ bây giờ.
Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Tinh thần gắn đào tạo với nghiên cứu và đổi mới sáng tạo đang từng bước được cụ thể hóa. Nghị định số 179/2026/NĐ-CP quy định chính sách học bổng đối với sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Cùng với đó, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) dự kiến triển khai Chương trình Nghiên cứu sinh xuất sắc (VREF), hỗ trợ người học tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh, tiếp cận hạ tầng hiện đại và từng bước hình thành năng lực nghiên cứu độc lập.
Phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhà khoa học trẻ cần được xem là ưu tiên chiến lược để tạo lực lượng kế cận. Nếu Nghị định số 179 mở rộng cơ hội tiếp cận các ngành khoa học ưu tiên, VREF được kỳ vọng tạo sự kết nối liên tục từ đào tạo nghiên cứu sinh đến phát triển trong các nhóm nghiên cứu mạnh.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ ĐÀO NGỌC CHIẾN
Giám đốc NAFOSTED
Hội nghị tổng kết 20 năm thành lập, 15 năm hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED).
Hội nghị tổng kết 20 năm thành lập, 15 năm hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED).
Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, quá trình tái cấu trúc đang hướng tới xây dựng hệ sinh thái kết nối đào tạo, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ. Hệ sinh thái này được phát triển trên ba trụ cột: Tạo ra tri thức và công nghệ nguồn thông qua các viện, trung tâm nghiên cứu và phòng thí nghiệm trọng điểm; thúc đẩy hợp tác đại học-doanh nghiệp bằng các phòng thí nghiệm hỗn hợp và trung tâm chế thử; đẩy mạnh thương mại hóa thông qua BK-Holdings và Quỹ đầu tư BK-Fund.
Đại học Bách khoa Hà Nội cũng đang xây dựng Không gian Đổi mới sáng tạo liên ngành theo mô hình Design Factory của Đại học Aalto, quy tụ nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý cùng tham gia phát triển công nghệ trong các lĩnh vực chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, kinh tế tầm thấp và đô thị thông minh.
Đại học Bách khoa Hà Nội hướng tới xây dựng hệ sinh thái kết nối đào tạo, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.
Đại học Bách khoa Hà Nội hướng tới xây dựng hệ sinh thái kết nối đào tạo, nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa công nghệ.
Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội Lê Anh Tuấn cho rằng, muốn hình thành đội ngũ có khả năng dẫn dắt trong lĩnh vực vật liệu, cần đầu tư đồng bộ cho đào tạo, phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm nghiên cứu mạnh, học bổng và chính sách thu hút nhà khoa học giỏi. Đây là điều kiện để người trẻ theo đuổi nghiên cứu lâu dài và từng bước hình thành các hướng khoa học có thế mạnh.
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách Khoa Hà Nội
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách Khoa Hà Nội
Theo Giáo sư Lê Anh Tuấn, Đại học Bách khoa Hà Nội đã duy trì đào tạo các ngành luyện kim, vật liệu từ những ngày đầu thành lập. Trong giai đoạn tới, các lĩnh vực này cần tiếp tục được ưu tiên để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp và công nghệ chiến lược. Quá trình đào tạo một nhà khoa học không kết thúc ở tấm bằng đại học hay tiến sĩ. Điều quan trọng là tạo môi trường để họ tiếp tục nghiên cứu, trưởng thành trong các nhóm khoa học mạnh và từng bước đảm nhận vai trò dẫn dắt.
Trình diễn robot giao hàng tại Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam 2025.
Trình diễn robot giao hàng tại Diễn đàn quốc gia phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam 2025.
Đại học Quốc gia Hà Nội hiện triển khai chiến lược công nghệ chiến lược theo ba giai đoạn:
Dài hạn: Đào tạo nhân lực, phát triển nghiên cứu cơ bản, hướng tới mục tiêu đến năm 2035 Việt Nam có thể sở hữu những công nghệ của riêng mình; trung hạn: Phối hợp các bộ, ngành giải quyết những bài toán thực tiễn của đất nước; ngắn hạn: Huy động hơn 50 nhóm nghiên cứu mạnh thực hiện các nhiệm vụ cần có kết quả trong vòng sáu tháng.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ BÙI THẾ DUY
Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Thế Duy, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, cách tiếp cận này giúp phân bổ nguồn lực theo từng mục tiêu, đồng thời gắn nghiên cứu cơ bản với nhu cầu thực tiễn và các lĩnh vực chiến lược. Các nhiệm vụ được xác định rõ đầu ra, thời gian hoàn thành và khả năng ứng dụng, nhưng vẫn duy trì đầu tư cho những hướng nghiên cứu cần thời gian tích lũy lâu dài.
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng triển khai Chương trình “Nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học cơ bản giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn 2045”. Chương trình đặt mục tiêu thu hút khoảng 300 nhà khoa học trẻ xuất sắc và chuyên gia đầu ngành; mời 100 giáo sư thỉnh giảng quốc tế; phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh trong những ngành khoa học cơ bản và xây dựng các trung tâm xuất sắc về AI, chip-bán dẫn, công nghệ sinh học-y sinh, vật liệu tiên tiến.
Thực tế từ những mô hình này, đầu tư dài hạn cho khoa học cơ bản cần được tổ chức đồng bộ giữa tài chính, nhân lực, phòng thí nghiệm và liên kết đào tạo-nghiên cứu. Khi các nhóm khoa học có nguồn lực ổn định và đủ quyền chủ động, họ mới có điều kiện tích lũy tri thức, đào tạo lực lượng kế cận và theo đuổi những hướng nghiên cứu có giá trị lâu dài.
Hướng dẫn sinh viên Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội thực hành trong phòng thí nghiệm.
Hướng dẫn sinh viên Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội thực hành trong phòng thí nghiệm.
Từ hạt nhân xuất sắc đến nhóm nghiên cứu mạnh
Đào tạo được một nhà khoa học giỏi mới là bước khởi đầu. Để họ trưởng thành, gắn bó và phát huy năng lực, cần có những nhiệm vụ đủ lớn, hạ tầng nghiên cứu phù hợp, quyền tự chủ học thuật và môi trường cho phép theo đuổi các hướng nghiên cứu dài hạn. Khi có đủ điều kiện, những cá nhân xuất sắc mới có thể trở thành hạt nhân quy tụ đội ngũ, từng bước hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh.
Từ góc độ khoa học vật liệu, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đại Lâm cho rằng, Việt Nam cần sớm xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc và triển khai những chương trình dài hạn ở tầm quốc gia trong các lĩnh vực như bán dẫn, vật liệu năng lượng, vật liệu lượng tử, vật liệu sinh học và vật liệu quốc phòng. Những bài toán khoa học lớn, gắn với yêu cầu phát triển đất nước sẽ tạo không gian để tập hợp và phát huy đội ngũ nhà khoa học hàng đầu.
Thực tế cho thấy, chip bán dẫn, pin lithium, vật liệu graphene hay AI đều được hình thành từ quá trình nghiên cứu kéo dài nhiều năm. Khoảng cách từ một phát hiện khoa học đến công nghệ và sản phẩm có thể rất dài, nhưng chính sự tích lũy bền bỉ đó tạo nên những bước tiến quan trọng.
Nghiên cứu chế tạo nguồn phát plasma lạnh ứng dụng trong tổng hợp vật liệu nano kim loại.
Nghiên cứu chế tạo nguồn phát plasma lạnh ứng dụng trong tổng hợp vật liệu nano kim loại.
Các định hướng lớn từ Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 71-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW và các chiến lược công nghệ quốc gia đang mở thêm điều kiện để hình thành thế hệ nhà khoa học có tư duy toàn cầu, năng lực liên ngành và khả năng tiếp cận công nghệ lõi. Nếu có môi trường học thuật tự do, trung thực, hiện đại và cơ chế đầu tư đủ dài hạn, khoa học vật liệu Việt Nam có thể hình thành những hướng nghiên cứu mạnh, đóng góp cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Các chia sẻ góc nhìn về nhân lực cho rằng, nghiên cứu cơ bản nằm ở gốc của hệ sinh thái đào tạo và bồi dưỡng nhân lực khoa học, công nghệ. Đây cũng là một trong những lý do thiết thực khiến các nước công nghiệp phát triển kiên trì đầu tư cho lĩnh vực này. Tất nhiên sau việc hưởng lợi ngắn hạn từ việc đầu tư đó, họ còn hưởng lợi ích dài hạn của việc đầu tư cho nghiên cứu cơ bản. Bởi vì các thành tựu của nghiên cứu cơ bản chỉ có thể được biến đổi thành sản phẩm khoa học, công nghệ nhờ chính những nhân lực khoa học, công nghệ mà hệ sinh thái xuất phát từ hoạt động nghiên cứu cơ bản nói trên đã đào tạo ra.
Ngay cả với lĩnh vực có tính độc lập cao như toán học, nghiên cứu vẫn cần trao đổi, hướng dẫn và cộng tác học thuật. Mô hình phổ biến trên thế giới là bắt đầu từ những hạt nhân xuất sắc, trước hết là các nhà khoa học đầu ngành, sau đó từng bước phát triển thành nhóm nghiên cứu mạnh.
Các học viên thực hành khai thác và phân tích dữ liệu mở của NASA.
Các học viên thực hành khai thác và phân tích dữ liệu mở của NASA.
Một trong những đề xuất được các chuyên gia nêu ra và quan tâm là không phân biệt nhà khoa học Việt Nam hay nước ngoài, quan trọng là người đó phù hợp nhu cầu phát triển của đất nước. Trong điều kiện nội lực còn hạn chế, chúng ta cần lựa chọn và đầu tư từng nhóm, phù hợp thực tiễn, đồng thời tận dụng tốt sự hợp tác của các nhà khoa học đang làm việc trong nước. Khi lực lượng đã đủ mạnh, quy mô đầu tư có thể tiếp tục được mở rộng theo yêu cầu phát triển.
Một nhóm nghiên cứu hoạt động hiệu quả và có uy tín học thuật sẽ trở thành “thỏi nam châm”, thu hút thêm các nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước. Muốn vậy, Nhà nước cần lựa chọn đúng người, đánh giá công khai, minh bạch thông qua phản biện đồng nghiệp và có sự tham gia thực chất của cộng đồng khoa học quốc tế. Giáo sư, Tiến sĩ Phùng Hồ Hải nhấn mạnh: “Khi đã lựa chọn đầu tư thì phải tạo điều kiện tốt nhất để nhà khoa học làm việc. Nói cách khác, đã giao nhiệm vụ thì phải có sự tin tưởng”.
Bệnh viện đa khoa Tâm Anh Thành phố Hồ Chí Minh ứng dụng Robot AI Modus V Synaptive trong phẫu thuật não và tủy sống.
Bệnh viện đa khoa Tâm Anh Thành phố Hồ Chí Minh ứng dụng Robot AI Modus V Synaptive trong phẫu thuật não và tủy sống.
Đầu tư cho cơ sở vật chất có thể tạo ra những phòng thí nghiệm hiện đại, nhưng con người mới quyết định sức sống của nền khoa học. Khi các nhà khoa học được tạo điều kiện phát triển, các nhóm nghiên cứu được nuôi dưỡng ổn định và từng bước tạo dựng uy tín, nền khoa học sẽ có thêm những hạt nhân đủ sức dẫn dắt các hướng nghiên cứu mới. Để những hạt nhân ấy phát triển thành các nhóm mạnh và tham gia sâu hơn vào các hướng nghiên cứu tiên tiến, Việt Nam cần tiếp tục mở rộng hợp tác, kết nối với các mạng lưới khoa học quốc tế.
Ngày xuất bản: 30/7/2026
Chỉ đạo thực hiện: Đinh Song Linh
Nội dung: Trà My, Bích Liên, Quang Huy, Ngọc Hiếu
Trình bày: Trung Hưng
Ảnh: VAST, USTH, HUST, Quỹ NAFOSTED
E-MAGAZINE
nhandan.vn