Hội thảo khoa học quốc tế: “Văn học Việt Nam từ Đổi mới đến nay”

Ngày 31/10, tại Hà Nội, Viện Văn học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế: “Văn học Việt Nam từ Đổi mới đến nay (1986-2026)”.

Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (giữa), Tiến sĩ Nguyễn Huy Bỉnh, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học (trái) và Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Nga, Phó Viện trưởng Viện Văn học (phải) chủ trì Phiên toàn thể Hội thảo. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (giữa), Tiến sĩ Nguyễn Huy Bỉnh, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học (trái) và Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Nga, Phó Viện trưởng Viện Văn học (phải) chủ trì Phiên toàn thể Hội thảo. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Hội thảo nhằm nhìn lại và đánh giá những thành tựu nổi bật của văn học Việt Nam trong thời kỳ Đổi mới, đồng thời nhận diện những vấn đề đang đặt ra trong đời sống văn học đương đại, từ đó hướng tới việc gợi mở các định hướng, kiến nghị và giải pháp nhằm tiếp tục thúc đẩy sự phát triển văn học Việt Nam trong giai đoạn mới.

120 tham luận và 6 chủ đề chính

Hội thảo thu hút nhiều học giả, nhà nghiên cứu đến từ hơn 40 cơ quan, đơn vị, viện nghiên cứu, trường đại học, cơ sở giáo dục trong và ngoài nước...

11-1569.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu tại Hội thảo. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Phát biểu chào mừng và khai mạc hội thảo, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam khẳng định, cột mốc Đổi mới năm 1986 là bước ngoặt quan trọng trong tiến trình lịch sử phát triển của đất nước, đã tạo chuyển biến sâu sắc trên nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với việc nhận thức, đánh giá và phát huy các nguồn lực nội sinh của dân tộc trong quá trình kiến tạo và hội nhập quốc tế.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, 40 năm qua, văn học Việt Nam có những chuyển biến quan trọng, là quá trình vận động trong sự kết nối giữa truyền thống và hiện đại; giữa gìn giữ bản sắc dân tộc với mở rộng giao lưu quốc tế; giữa giá trị cộng đồng với nhu cầu khẳng định cá tính sáng tạo của chủ thể nghệ thuật.

Tuy nhiên, văn học Việt Nam cũng đứng trước những hạn chế, thách thức về chất lượng sáng tạo, hoạt động lý luận, phê bình; các xu hướng tiếp nhận, quảng bá tác phẩm; cơ chế quản lý văn học nghệ thuật; tác động của kinh tế thị trường, truyền thông số, sự thay đổi hệ giá trị và quá trình toàn cầu hóa văn hóa.

Chủ tịch Viện Hàn lâm bày tỏ tin tưởng hội thảo sẽ là diễn đàn học thuật có ý nghĩa quan trọng để các nhà khoa học trong nước và quốc tế cùng trao đổi, đối thoại, nhận diện, đánh giá một cách thực chất những thành tựu, bổ sung cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu, đồng thời đúc rút bài học kinh nghiệm, làm sáng tỏ những quy luật vận động, đặc điểm và triển vọng, định hướng phát triển của văn học Việt Nam trong bối cảnh lịch sử mới.

Chủ tịch Viện Hàn lâm đồng thời đánh giá cao nỗ lực của Viện Văn học trong tổ chức Hội thảo, bày tỏ trân trọng sự tham gia, đóng góp trí tuệ, tâm huyết, tài năng của các nhà khoa học, các chuyên gia trong nước và quốc tế tại hội thảo góp phần mở rộng không gian trao đổi học thuật, thúc đẩy đối thoại liên ngành và tăng cường sự hiểu biết về văn học Việt Nam trong tương quan với văn học các nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

8.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Huy Bỉnh, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học phát biểu tại Hội thảo. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Báo cáo đề dẫn hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Huy Bỉnh, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học khẳng định, những thành tựu của văn học 40 năm đổi mới là kết quả của quá trình nỗ lực không ngừng nghỉ của đội ngũ nhà văn và nhà nghiên cứu, phê bình văn học, thể hiện trên nhiều phương diện. Đó là thành quả của công cuộc đổi mới, sự quan tâm chú ý của Đảng và Nhà nước đối với phát triển văn học, nghệ thuật qua các chính sách, cơ chế, tạo môi trường thông thoáng hơn cho người viết, từ đó khơi dậy ý thức giải phóng cá tính sáng tạo và tư duy nghệ thuật người sáng tác. Những thành tựu của văn học đổi mới gắn liền với quá trình hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa. Và đặc biệt, thành tựu của văn học thời kỳ Đổi mới là kết tinh từ nội lực văn hóa và ý thức trách nhiệm của người nghệ sĩ trong bối cảnh mới của đất nước.

Tiến sĩ Nguyễn Huy Bỉnh kỳ vọng, hội thảo sẽ tập trung đánh giá những thành tựu nổi bật và các giới hạn, thách thức cần khắc phục của văn học Việt Nam từ Đổi mới đến nay (40 năm từ 1986 đến 2026). Từ đó tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra; đề xuất các kiến nghị và định hướng đối với hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, phê bình, tiếp nhận và quảng bá văn học, phù hợp với yêu cầu phát triển văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn mới.

Hội thảo Văn học Việt Nam từ Đổi mới đến nay (1986-2026) chia thành 6 Tiểu ban và Tổ chức thành 2 phiên, mỗi phiên 3 Tiểu ban đồng thời trình bày các tham luận, trao đổi và thảo luận.

Ban tổ chức cho biết, trong vòng 6 tháng đã nhận được hơn 120 tham luận từ các học giả, nhà nghiên cứu đến từ hơn 40 cơ quan, đơn vị, viện nghiên cứu, trường đại học, cơ sở giáo dục trong và ngoài nước, trong đó có thể kể đến khối học giả quốc tế từ 5 đơn vị thuộc 4 quốc gia: Đại học Chulalongkorn (Thái Lan); Viện Nghiên cứu Ngôn ngữ và Văn hóa châu Á, Đại học Mahidol (Thái Lan); Đại học Quốc gia Singapore (Singapore); Học viện Ngoại ngữ, Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc) và Đại học California, Riverside (Hoa Kỳ).

Khối các viện nghiên cứu và cơ quan Trung ương gồm 8 đơn vị: đơn vị chủ nhà Viện Văn học, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Nghiên cứu Văn hóa (cùng thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam); Viện Nghiên cứu Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam; Hội đồng Lý luận Trung ương; Hội Nhà văn Việt Nam; Đảng ủy Đại học Quốc gia Hà Nội; Phòng Nghiên cứu Văn hóa-Xã hội (Viện Nghiên cứu Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh).

Khối các trường đại học trong nước có 28 đơn vị gồm miền bắc (9 trường); Khu vực miền trung và Tây Nguyên (7 trường); Khu vực miền nam (12 trường); khối Giáo dục Phổ thông và Trung tâm Giáo dục địa phương (10 trường).

Văn học Đổi mới trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa

120 tham luận từ Hội thảo được sắp xếp tập trung vào 6 chủ đề chính với 6 tiểu ban. Cụ thể:

Tiểu ban 1 với chủ đề “Văn học thời kỳ Đổi mới: Kết nối và mở rộng” bao gồm 11 tham luận tập trung khảo sát đánh giá các hướng tiếp cận liên văn hóa, không gian xuyên quốc gia, tiếp nhận lý thuyết như phê bình Marxist, triết học hiện sinh, văn học dịch; cùng các chủ đề như chuyển giao tiêu thụ “tái kiến tạo thế giới” Việt Nam, hàng hóa hóa đời sống tư gia, khủng hoảng về giao tiếp và cảm xúc trong văn học xuyên quốc gia, tự sự ký ức trong văn học di dân, tự sự học so sánh như phương thức “đọc xuyên văn hóa”, rủi ro, hiện đại thứ hai và thế giới không chỉ có con người trong văn học Việt Nam đương đại, sách giáo khoa Hoa Kỳ và Việt Nam.

Tiểu ban 2 chủ đề “Nghiên cứu văn học dân gian, cổ trung đại và địa phương: Thành tựu và những hướng tiếp cận”. 9 tham luận của Tiểu ban đã đánh giá diện mạo nghiên cứu văn học dân gian và trung đại 40 năm Đổi mới: Phân tích những thành tựu đã đạt được, hạn chế, tồn tại, và đề xuất hướng phát triển cho việc nghiên cứu văn học dân gian và văn học trung đại Việt Nam giai đoạn tiếp theo. Hoặc đánh giá tình hình một vấn đề nghiên cứu cụ thể như nghiên cứu tiểu thuyết chương hồi trung đại Việt Nam; đổi mới góc nhìn nghiên cứu từ phân tích văn bản thuần túy sang đặt văn học dân gian trong bối cảnh thực hành văn hóa xã hội.

Giải mã tri thức dân gian về tự nhiên qua dữ liệu tục ngữ được xuất bản từ năm 1986 đến nay. Đánh giá việc sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu văn học dân gian vùng đất Nam Bộ trong thời kỳ Đổi mới. Sự tiếp biến và cải dạng văn học trung đại, tái thiết lập các giá trị văn hóa. Khảo sát quá trình chuyển hóa tư liệu điền dã thực địa thành nguồn lực học thuật và giảng dạy trong môi trường đại học. Việc tuyển chọn văn học cổ-trung đại trong sách giáo dục phổ thông 1986 đến nay.

9-7819.jpg
Quang cảnh hội thảo tại Tiểu ban 1 với chủ đề “Văn học thời kỳ Đổi mới: Kết nối và mở rộng”. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Tiểu ban 3: “Lý luận, phê bình và dịch thuật văn học: Đổi mới và hội nhập” gồm 15 tham luận tập trung vào các chủ đề: Nhìn lại chặng đường 40 năm hiện đại hóa lý luận văn học; đánh giá bài học kinh nghiệm cùng giải pháp nâng cao chất lượng lý luận, phê bình. Chuyển biến về tư duy, phương pháp và hệ hình; hội nhập và “nội địa hóa” lý thuyết phương Tây. Đường lối của Đảng với chính sách văn hóa; vai trò của văn học nghệ thuật trong xây dựng, phát triển văn hóa. Tự do sáng tạo và phát triển đội ngũ. Nhìn nhận các vấn đề như con người cá nhân, chủ nghĩa nhân văn, khuynh hướng lý luận và các trào lưu tư tưởng; dịch thuật văn học, giao lưu quốc tế và tiếp nhận văn học nước ngoài.

Tiểu ban 4: “Văn học thời kỳ Đổi mới: Chủ thể sáng tạo và cách tân nghệ thuật” có 19 tham luận tập trung phản ánh sự chuyển biến sâu sắc về tư duy nghệ thuật, vị thế chủ thể sáng tạo và những cách tân đa dạng trên các bình diện văn học với 5 vấn đề chính: (1) Sự dịch chuyển của lực lượng sáng tác, phẩm tính, trách nhiệm đạo đức nhà văn và tư tưởng nghệ thuật; vị thế “đường biên” của nhà văn di dân/xuyên quốc gia; nhìn nhận thái độ “công bằng với quá khứ” để lấp đầy các khoảng trống lịch sử - văn học, hướng tới xây dựng tương lai bền vững; khảo sát sự hình thành, đứt gãy và hồi sinh của các nhóm/tập san văn học đặc thù ở địa phương; (2) Chủ thể nữ giới, kinh nghiệm nữ tính và góc nhìn văn hóa; (3) Căn tính, chủ thể xuyên văn hóa và nhân vật trong văn học đương đại; (4) Sự thức tỉnh chủ thể và ký ức cộng đồng trong văn học dân tộc thiểu số; (5) Sự vận động, đổi mới phương pháp và diện mạo văn học thiếu nhi.

Tiểu ban 5: “Văn học thời kỳ Đổi mới: Đa dạng thể loại và những hướng tiếp cận mở” gồm 41 bài viết, hội tụ phân tích sự phát triển của các thể loại văn học (tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, tản văn) và việc vận dụng các lý thuyết nghiên cứu hiện đại với các vấn đề chính: (1) Cơ chế vận động, sự biến động, tương tác hòa thể của các thể loại văn học. (2) Phê bình sinh thái và nữ quyền luận sinh thái (ecocriticism). (3) Tự sự chấn thương, ký ức chiến tranh và hậu chiến. (4) Không gian đô thị, làng quê, miền núi và văn hóa vùng miền. Chủ đề văn học Nam Bộ và miền núi. (5) Lý thuyết liên văn bản, hiện sinh, Phật giáo và giới tính.

10-9316.jpg
Các đại biểu tham gia Hội thảo chụp ảnh lưu niệm. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Tiểu ban 6: “Văn học Đổi mới trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa” gồm 18 tham luận tập trung phản ánh sự tương tác liên ngành giữa văn học với các ngành công nghiệp sáng tạo, truyền thông đại chúng và công nghệ số trong bối cảnh hiện đại, chủ yếu tập trung vào ba vấn đề: (1) Chuyển thể văn học sang điện ảnh, sân khấu và cải lương; (2) văn học trong kỷ nguyên số, truyền thông mới và trí tuệ nhân tạo và (3) du lịch văn học, âm nhạc và motif nghệ thuật hiện đại.

Tổng kết và bế mạc hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Nga, Phó Viện trưởng Viện Văn học bày tỏ sự trân trọng khi Hội thảo nhận được sự quan tâm, hiện diện của các vị lãnh đạo, các vị khách quý, sự có mặt và tham gia nhiệt tình của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế, đại diện truyền thông từ các đơn vị báo chí.

Từ các tham luận và trao đổi, thảo luận, Ban tổ chức đã lắng nghe, tập hợp được ý kiến các nhà khoa học, chuyên gia trong và ngoài nước tổng kết, đánh giá về tình hình nghiên cứu văn học Việt Nam 40 năm từ khi Đảng phát động công cuộc Đổi mới, cũng như xem xét một số vấn đề, hiện tượng văn học được đặt ra sau Đổi mới.

Đây là sự kiện tiếp nối các hội thảo tổng kết văn học từng diễn ra của Viện Văn học, góp phần khẳng định chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng trong công cuộc Đổi mới, khẳng định giá trị và những đóng góp của văn học Việt Nam trong tiến trình phát triển văn hóa đất nước.

Có thể bạn quan tâm