Trợ lực người cầm bút

Để có tác phẩm chất lượng cao, mấu chốt là ở chính nhà văn. PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình Hội Nhà văn Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Văn học, chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về những giải pháp giúp nhà văn giải phóng năng lượng sáng tạo.

PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp.
PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp.

- Thưa ông, văn học Việt Nam đã ghi dấu nhiều thành tựu ấn tượng. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã có những đột phá về mặt tư duy nghệ thuật, tìm kiếm những giọng điệu mới, nhưng hành trình hội nhập với văn học thế giới vẫn còn rất gập ghềnh?

- Văn học Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng. Đội ngũ nhà văn trong nước và nhiều cây bút người Việt ở nước ngoài đã nỗ lực góp phần tạo nên sự phát triển đa dạng của văn học dân tộc.

Tuy nhiên, giữa văn học Việt Nam và văn học hiện đại thế giới vẫn còn một khoảng cách. Điều này có nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan. Tôi chỉ xin nêu một số nguyên nhân chính: Thứ nhất, về cơ bản văn học Việt Nam vẫn chủ yếu nói về những câu chuyện của mình, nhìn nhận đời sống theo cách của mình mà chưa kiến tạo được những diễn ngôn mang tính phổ quát về con người. Nghĩa là chúng ta chưa tạo được sự dịch chuyển mang tính hệ hình từ dân tộc sang nhân loại. Đây là hai phạm trù có mối quan hệ sâu sắc. Việc miêu tả sâu sắc lịch sử, đất nước, con người Việt Nam dĩ nhiên là hết sức quan trọng, nhưng phải làm sao để từ sự miêu tả của nhà văn, người đọc vừa hiểu Việt Nam vừa nhận thấy những vấn đề chung mà nhân loại quan tâm. Chỉ như thế, văn học Việt Nam mới đủ sức chinh phục cả người đọc trong nước lẫn người đọc nước ngoài.

Thứ hai, văn học Việt Nam còn thiếu những tác phẩm mang tầm triết - mỹ sâu sắc để thế giới có thể nhận diện một cách cụ thể về căn tính, bản sắc Việt. Đây là một đòi hỏi rất cao, mang tính đột phá. Không phải ngẫu nhiên mà khi nói đến văn học Mỹ Latin, ta nhớ đến chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, còn tiếp xúc với văn học Nhật Bản, người đọc tìm thấy ở đó mỹ học tối giản và sự sâu thẳm đầy chất thơ của người Nhật. Bản sắc/căn tính không phải là những thứ được định sẵn mà luôn được kiến tạo trong trường kỳ lịch sử và trong thực hành nghệ thuật của nhà văn. Nó đòi hỏi nhà văn không chỉ tiếp nhận những giá trị mà còn phải biết vượt lên những giới hạn của mỹ học cũ để khai mở ý thức mỹ học mới. Thứ ba, lượng tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra thế giới còn hết sức khiêm tốn. Chúng ta cũng thiếu hụt những công trình phê bình có khả năng quốc tế hóa để quảng bá cho sự phong phú của văn hóa và văn học dân tộc.

- Phải chăng, còn một lý do nữa, chúng ta chưa có sự hỗ trợ thích đáng, thưa ông?

- Câu hỏi này liên quan đến chiến lược quảng bá văn hóa, nghệ thuật Việt Nam ra thế giới. Về nguyên tắc, một nền văn học muốn hội nhập quốc tế tốt cần tạo dựng được hệ sinh thái có cấu trúc sáu tầng: Nhà văn chuyên nghiệp; dịch giả tinh thông nghề nghiệp; đại diện xuất bản (literary angents); quỹ hỗ trợ dịch thuật; hội chợ sách quốc tế; phê bình, học thuật có khả năng quốc tế hóa. Nếu căn cứ vào cấu trúc này sẽ thấy chúng ta đang thiếu hụt trầm trọng cả nhân lực lẫn vật lực. Đó là lý do văn học Việt Nam khó hội nhập quốc tế ngay cả khi chúng ta có nhiều tác phẩm đạt chất lượng tốt.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để nhanh chóng hội nhập, vai trò và sự hỗ trợ của Nhà nước cũng như các tổ chức xã hội là vô cùng cần thiết. Chẳng hạn ở Pháp có Institut Francais, Đức có Frankfurt Book Fair, ở Nhật có Japan Foundation, Hàn Quốc có Literature Translation Institute of Korea (gắn với làn sóng Hallyu)… Vì thế, muốn đẩy nhanh hội nhập quốc tế, chúng ta có rất nhiều việc để làm, trong đó, cần ưu tiên việc thành lập Trung tâm/ Viện quốc gia về dịch thuật-môi giới-quảng bá văn học. Trước mắt, phải thành lập một Hội đồng thật sự có uy tín về chuyên môn để tuyển chọn khoảng 100 tác phẩm xuất sắc (gồm các thể loại khác nhau), dịch sang tiếng Anh nhằm giới thiệu rộng rãi ra thế giới. Mặt khác, phải thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của phê bình văn học, xây dựng các diễn đàn học thuật có khả năng đối thoại quốc tế.

- Thưa ông, trong sáng tạo văn chương, lý luận phê bình hết sức quan trọng. Làm sao để không khen bốc đồng, không chê vùi dập?

- Cũng như sáng tác, hoạt động lý luận, phê bình văn học sau 1975 có nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Nhiều lý thuyết văn học hiện đại của thế giới đã được giới thiệu, vận dụng hiệu quả, góp phần làm thay đổi tư duy nghiên cứu văn học. Bên cạnh việc đẩy mạnh nghiên cứu chuyên ngành là sự mở rộng của hướng tiếp cận liên ngành, xuyên ngành. Về cơ bản, lý luận, phê bình đã đồng hành với sáng tác trong việc kiến tạo diễn ngôn nghệ thuật mới. Tuy nhiên, nếu từ 1986 đến giữa những năm 90, sự tương tác giữa lý luận, phê bình văn học và sáng tác khá nhịp nhàng thì từ năm 1995 trở lại đây, lý luận, phê bình văn học nhiều khi chưa bắt kịp thực tiễn sáng tạo nghệ thuật. Hiện tượng khen đến mức bốc đồng hay chê đến mức vùi dập vẫn còn xuất hiện nhiều. Tôi nghĩ, trước hết, đó là biểu hiện của tình trạng thương mại hóa trong lĩnh vực nghệ thuật. Nhưng sâu xa hơn, hiện tượng cực đoan này gắn liền với đạo đức phê bình và tiêu chí đánh giá nghệ thuật. Phê bình văn học không phải là nơi biểu đạt cảm xúc cá nhân hay chiêu thức PR cho tác giả, cũng không phải là diễn ngôn quy chụp đạo đức, hạ thấp nhân cách người khác mà phải là một thực hành diễn giải mang tính khoa học và trách nhiệm như Terry Eagleton quan niệm.

- Như ông đã từng chia sẻ, số lượng xuất bản phẩm lý luận, phê bình từ sau 1975 là vô cùng phong phú về số lượng nhưng vẫn còn khiêm tốn về chất lượng?

- Đó là đánh giá chung của cá nhân tôi cũng như nhiều người về thực tiễn lý luận, phê bình đương đại. Nhưng trước hết, cần phải khẳng định một thực tế: lý luận, phê bình văn học sau năm 1975 đã có nhiều đổi mới rất đáng chú ý. Đời sống lý luận, phê bình văn học đã xuất hiện một số công trình có chất lượng khoa học cao, mang tính đột phá, vận dụng khá nhuần nhuyễn nhiều lý thuyết văn học hiện đại của thế giới. Tuy nhiên, hiện tượng phê bình cảm tính, kể lể, bình tán chủ quan vẫn còn khá phổ biến.

Đến nay, chúng ta vẫn còn quá ít các công trình lý luận, phê bình hay giáo trình đại học được xuất bản ra khu vực và thế giới. Còn ít các hội thảo hoặc các tranh luận văn học mang tầm đối thoại học thuật quốc tế. Thậm chí, không ít cuộc tranh luận bị biến tướng, văn hóa tranh luận bị vi phạm nghiêm trọng, tranh luận bị biến thành chỗ hơn thua, cãi vã, dè bỉu, quy chụp lẫn nhau. Tệ nhất là có những người chưa đọc tác phẩm vẫn lên tiếng phê bình theo kiểu ăn theo, nói leo. Họ cắt xén, xuyên tạc văn bản, tự coi mình sở đắc chân lý để phê phán người khác mà không nghĩ đến việc phát ngôn của mình đã ảnh hưởng ra sao đến phong khí phê bình.

Theo ý tôi, bản chất của phê bình là đối thoại để truy tìm chân lý. Muốn đối thoại, đánh giá đúng giá trị văn học, lý luận, phê bình phải gắn với thực tiễn và chiều sâu học thuật, gắn liền với nền tảng lý thuyết vững vàng. Hoạt động phê bình phải thật sự là một hoạt động sáng tạo, vì thế, không thể nhìn thấy cái mới nếu nhà phê bình vẫn giữ nguyên cái nhìn cũ.

hoi-thao-van-hoc-viet-nam-sau-nam-1975-thanh-tuu-van-de-va-trien-vong.jpg
Đã có nhiều hội thảo được tổ chức nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về những chặng đường phát triển của Văn học Việt Nam.

- Đối với người viết trẻ, theo ông, làm sao để họ có đột phá trên con đường văn chương đầy nhọc nhằn?

- Thế hệ trẻ hiện nay có nhiều ưu thế và điều kiện mà thế hệ trước không có được. Họ được đào tạo bài bản, được tiếp xúc với thế giới một cách nhanh chóng, điều kiện công bố tác phẩm thuận lợi. Tuy nhiên, đó vẫn là những điều kiện bên ngoài mà thời thế đem lại. Còn lại, sự đột phá thật sự của người viết trẻ phải xuất phát từ nội lực, sức mạnh bên trong. Đó là ý thức tận hiến và quyết liệt trong sáng tạo, là tầm văn hóa và bản lĩnh cá nhân. Những thành quả nghệ thuật sẽ khó lòng bền vững nếu người trẻ bị chi phối bởi các yếu tố ngoài nghệ thuật hay nóng vội, chạy theo thời thượng. Điều quyết định, họ phải xác lập được con đường, giọng nói của chính mình và kiên trì với sự lựa chọn ấy.

- Cuối cùng, đâu là giải pháp giúp nhà văn giải phóng năng lượng sáng tạo, tìm kiếm những phương thức biểu đạt mới, phát huy tối đa tài năng?

- Để giải phóng năng lượng sáng tạo của nhà văn trong bối cảnh hội nhập quốc tế cần đến nhiều yếu tố nhưng đáng chú ý hơn cả là ba yếu tố sau đây: một là, tôn trọng quyền tự do sáng tạo của nhà văn; hai là, xây dựng hệ sinh thái văn hóa nhân văn và môi trường đối thoại (trong nước và quốc tế) lành mạnh; ba là, phát huy tài năng và bản lĩnh của nhà văn. Trong ba yếu tố này, yếu tố thứ ba là quan trọng nhất, vì xét đến cùng, tầm vóc của một nền văn học trước hết gắn liền với trách nhiệm và sứ mệnh của nhà văn!

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm