ND - Bước khỏi đò, chân vừa bén bờ cát, Nhuần đã thoăn thoắt quẩy gánh ngược lên. Bờ sông Hồng mùa này tím ngát hoa cỏ may. Nhuần buông quần chùng, hoa cỏ may đâm vào ran rát. Hết quãng đường cỏ may, cô hạ quang gánh bên lề đường, ngồi nghỉ trên tảng đá ven sông.
Một tay cầm nón quạt tung cả tóc, một tay cô nhổ hoa cỏ may trên ống quần. Ðang mải nhìn và nghĩ sao dòng sông cạn nhanh thế thì Nhuần nghe tiếng hỏi:
- Lâu lắm hôm nay mới lại thấy cô Nhuần đi chợ?
- Nhà em bấn quá. Mới lại chẳng có gì bán.
Nhuần ngẩng lên, nhận ra Ðam vai vác cuốc, quần xắn trên đầu gối. Thấy Ðam mỉm cười, Nhuần cũng mỉm cười. Ðam chăm chắm nhìn mái tóc đen dài và đôi mắt bồ câu của Nhuần, rồi vờ nhìn vào đôi quang thúng của Nhuần, hỏi:
- Cô Nhuần phải bán ngô non à?
- Ngô non có giá hơn ngô già. Bây giờ người ta thích ăn ngô non nướng hay luộc cơ. - Nhuần vẫn hí hoáy nhổ hoa cỏ may ở ống quần.
- Ờ, xem ra cô hiểu thị trường đáo để! - Ðam buông cuốc, ngồi xuống cạnh Nhuần, cười hì hì - Cô Nhuần để tôi nhổ hoa cỏ may giúp cho, chứ mình cô nhổ đến trưa cũng chẳng xong, lại lỡ phiên chợ.
Nhuần vội co chân lại, đưa mắt nguýt Ðam, bảo:
- Người ta thấy, cười cho!
- Cười hở mười cái răng! - Ðam lại cười hì hì - Ở bờ sông vắng vẻ, có ai đâu mà sợ.
Ðam cầm một bên ống quần đầy hoa cỏ may của Nhuần, nhổ thoăn thoắt. Nhìn trước nhìn sau không có người, Nhuần im lặng. Nhuần im lặng nhưng tim lại đập thon thót và ngực cứ thở dồn. Chẳng biết từ thuở nào bây giờ Nhuần mới được ngồi gần người đàn ông đến thế, hơi thở thì nóng hôi hổi, mùi mồ hôi ngây ngất. Thế mà dì của Nhuần bảo đàn ông là giống hổ báo, hay lừa đàn bà, chớ có gần. Ðang nghĩ xa nghĩ gần, Nhuần bỗng thấy nhột hết cả người. Bàn tay cứng rắn, thô nhám và nóng ấm của Ðam đang khẽ bóp bóp bắp chân Nhuần. Nhuần định co chân lại, định kêu lên nhưng không hiểu sao Nhuần cứ đờ ra, tai nghe lào phào: "Cô Nhuần có bắp chân lẳn thế này chắc chồng cô thích lắm!". Nhuần đấm thùm thụp vào cái lưng to như tấm phản của Ðam, khẽ mắng: "Phải gió cái nhà anh này! Có mà chồng mâm, chồng bát...". Ðam cười hì hì, mắt tít lại.
Dì Thắm người nhỏ, gầy khô. Dì không chồng nên nuôi Nhuần, con của chị gái, làm con. Dạo này thấy Nhuần đổi nết, hay đi chợ về muộn, mặt thì tươi như hoa, cười nói huyên thuyên, dì liền tra:
- Mày phải lòng thằng nào, hẳn?
- Có thằng nào?- Nhuần gỡ nón, buông quang gánh, lảng ra sau nhà.
- Không có thằng nào?- Dì Thắm đi theo Nhuần, ngó vào tận mặt đứa cháu vàng cháu bạc của đời dì, tra tiếp - Không có thằng nào mà sao dạo này hay đi chợ về muộn, mặt lại còn tươi như hoa thế kia?
- Con vui vì bán hết rau, chứ sao!- Nhuần cãi, đầu hơi cúi, tránh cái nhìn soi mói của dì.
- Này, dì biết thừa nhá! - Dì Thắm nguýt dài, hai hàm răng nghiến sít - Mày đi chợ về, rồi cứ quanh quẩn bên thị xã, bên bờ sông ấy à. Dì truyền đời báo danh cho mà biết nhá, liệu lại phễnh lên, giơ mặt cả làng, giơ mặt cả đời đấy con ạ!
- Con mặc kệ!- Nhuần quăng chiếc đòn gánh ra chái bếp, miệng làu bàu- Suốt ngày chỉ ruộng vườn với chợ búa, tham việc! Con thích anh Ðam thì đã sao nào?
- Ối giời! Biết ngay cái tổ con chuồn chuồn mà! - Dì Thắm nhặt chiếc đòn gánh Nhuần vừa quăng, dựng lên vách bếp. Dì lừ mắt, dề môi - Tưởng ai? Cái thằng Ðam con nhà ông Ðiền ở xóm Bách Lộc bên kia sông, thằng Ðam bị ma làm...
- Dì bảo sao? Ma làm? - Nhuần hoảng hốt.
- Phải!- Dì Thắm dí ngón tay vào trán Nhuần, giọng dài ra- Thằng Ðam bị ma làm cho nên gần bốn mươi tuổi rồi mà nó vẫn không lấy được vợ. Anh em nó đi công tác cả, chỉ mình nó làm rừng làm vườn, sống với con chó mực. Ðúng chưa?
Nghe dì nói, Nhuần chỉ ầm ừ, không tin. Thế mình ngoài ba mươi chưa lấy chồng cũng bị ma làm hay sao? Nhưng Nhuần thoáng nghi ngờ rằng, tại sao Ðam không lấy được vợ, chỉ sống với con chó mực trong ngôi nhà tuềnh toàng ở rìa làng, suốt ngày hí hoáy trong cái vườn, à không phải, bây giờ người ta gọi là cái trang trại, cái trang trại mênh mông toàn cây rừng với mấy vườn cây hồng rất to? Nhuần vừa sợ, vừa buồn. Nhuần bỏ ra bờ sông ngồi nhìn sang bờ bên kia, lòng ngổn ngang bao ý nghĩ.
Cuối hạ mà những trận mưa rào như đàn rồng nước ào ạt kéo vòi lê thê suốt từ Sơn Tây, vắt qua sông Hồng, ngược lên tận lưng chừng dãy núi Con Voi, lại ào sang dãy núi Hoàng Liên Sơn. Mưa bay mờ mịt, phủ kín hết thảy làng quê, phủ kín cả núi Bon, phủ kín cả núi Xu Phin làm biến mất những đỉnh núi vốn kiêu hãnh tít lưng trời. Ma núi khiến cho Nhuần phải dạt vào hiên ngôi nhà lá tuềnh toàng của Ðam ở ven rừng mỡ, không kịp ra bến đò. Sao nhà im ắng thế? Nhuần hạ quang gánh, gỡ chiếc nón úp lên quang sọt, ngó qua cửa sổ. Chiếc giường không buông màn, lù lù đống chăn. Nhuần nghĩ lạ, mùa hè nóng thế này anh Ðam lại đắp chăn, có mà dở hơi, hay là bị ma làm thật? Kệ người ta! Nhuần chỉ tránh mưa nhờ một lúc, rồi ra bến đò về nhà, chả phải bận tâm làm gì. Nhuần dựa sát vào vách nhà, mỏi dừ cả chân mà mưa mãi không tạnh. Nhuần ngao ngán nhìn mưa rơi thành bong bóng phập phồng đầy sân. Mưa bong bóng phập phồng đã từng trở thành câu ca tự bao giờ, để bây giờ bỗng vận vào số phận của Nhuần, cay đắng, rằng, "Trời mưa bong bóng phập phồng/ Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai?". Bố mẹ Nhuần ly hôn. Bố theo người đàn bà khác vào mãi Plây Cu sinh sống. Mẹ của Nhuần đi bước nữa. Dì Thắm cuộc đời từng một lần nở hoa mà không kết trái thành ra đơn thân, nên dì nhanh tay đón Nhuần về làm con nuôi từ lúc Nhuần mới bảy tuổi. Dì Thắm không chồng, càng già càng khó tính, càng ích kỷ, cũng không muốn Nhuần có chồng. Là thế. Nghĩ thiệt thân thì giận dì. Nhiều lúc lại thương dì. Mấy năm trước, người trai cày tên là Nản, dân tộc Tày ở mãi trên bản Gùa, là bạn của Nhuần, nhờ mai mối, dì Thắm liền lắc đầu: "Con Nhuần lấy chồng xa. Tôi làm sao chăm sóc!". Nói thế, tức là dì từ chối người ta còn gì nữa. Thực lòng, Nhuần cũng ưa anh Nản. Bởi anh Nản dáng trai cày to khỏe như con trâu cà, lại hiền lành, chịu khó cấy cày, nương rẫy. Dăm bảy bận Nhuần đã định liều, cứ tìm lên bản Gùa. Tối thấy dì Thắm nằm co ro một mình, lọt thỏm góc giường, Nhuần lại chảy nước mắt, bỏ không lên bản Gùa nữa. Một tối, Nhuần khẽ khàng lên giường, nằm cạnh dì, nghe tiếng thở của dì khò khè như con mèo hen, Nhuần buồn lắm. Nhuần buồn mà trái tim cứ đập thổn thức cho đến gà gáy sáng... Nhuần đang nhớ lại một tí chuyện xưa thì nghe tiếng ho trong nhà. Nhuần lại ngó qua cửa sổ. A, anh Ðam người sắt đá thế mà cũng biết ốm đau cơ đấy. Thui thủi một mình thế kia, ai chăm nom cho khỏi bệnh, khổ thân. Mưa vẫn rơi bong bóng phập phồng đầy sân. Hay là? Ðắn đo một lúc, Nhuần đánh liều đẩy cửa, vào nhà. Nhuần ngồi nép bên giường, khẽ vén chiếc vỏ chăn mỏng. Cái đầu xù tóc cứng hơi dỏng lên. Ðam giở mình, nghiêng người, nhận ra Nhuần tóc dài mắt bồ câu, giọng nhỏ:
- Nhuần đi chợ về à?
- Vâng!- Nhuần kéo tấm chăn lên sát cổ Ðam.
- Hôm nay Nhuần bán bí hay mướp thế?
- Mướp với rau mồng tơi. Thế anh ốm lâu chưa?
- Tôi bị cảm qua loa thôi mà.
- Ôi, anh bị cảm lạnh rồi! - Nhuần ấp bàn tay lên trán Ðam, khẽ kêu - Ðể em đánh gió cho, một lúc là ấm nóng ngay, hết cảm.
Nhuần đi ra ngoài chái nhà, đứng ngẩn. Ô nhỉ, không có tóc rối, không có nước giải, không có gừng thì đánh gió thế nào được. Gay rồi. Thôi đành. Nhuần giở cạp quần lấy cái túi con, cái túi Nhuần luôn dùng đựng tiền và trong đó bao giờ cũng có chiếc khăn tay nhỏ với hộp dầu con Hổ. Nhuần lấy khăn tay lau trán Ðam, rồi dùng dầu con Hổ cạo gió. Nhuần xoa dầu lên khắp người Ðam. Thái dương. Mũi. Cổ. Tay. Chân. Bụng. Lưng. Ôi chà! Tấm lưng dày như tấm phản. Bắp chân bắp tay cuồn cuộn thớ. Nhớ rồi, bàn tay rắn chắc ấm nóng từng nắn nắn bắp chân Nhuần ngày nào. Nhuần vừa cạo gió cho Ðam vừa mơ tưởng những điều đẩu đâu. Xong, Nhuần lại kéo chăn lên sát cổ Ðam, ý tứ dúi chiếc khăn tay với hộp dầu con Hổ xuống đầu giường. Con chó mực nằm góc nhà thỉnh thoảng lại ngó nhìn hai người. Im lặng lúc lâu, Nhuần ân cần hỏi:
- Anh thấy đỡ chưa?
- Cảm ơn Nhuần, khá rồi!
- Làm sao anh trồng được giống hồng quý thế? - Nhuần hỏi để khỏa lấp những điều đang nghĩ vẩn vơ.
Chẳng ngờ một cô gái sống đơn giản như Nhuần lại quan tâm đến công việc âm thầm bấy lâu của mình, Ðam thích quá. Ðam liền khoe bao lần mò về Viện giống cây trồng và Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội nhờ các kỹ sư, các giáo sư, tiến sĩ chỉ bảo, lại đi học hỏi ở miền xuôi, rồi về hí hoáy chiết ghép, thuê người chăm sóc, mất bao nhiêu thời gian, phải rất tỉ mẩn và khoa học như thế nào. Cảm thấy vẫn chưa đủ những điều cần giãi bày, Ðam với tay lật đầu giường, lấy ra mấy cuốn sách, chọn một cuốn, mở ra, đọc cho Nhuần nghe, nhiều lắm. Nhuần chăm chú nghe, rất lâu, nhưng không hiểu gì cả. Không hiểu, Nhuần càng khâm phục Ðam. Tưởng anh chàng bị ma làm, cứ luẩn quẩn trong ngôi nhà như nhà hoang, cứ loanh quanh trong rừng, trong vườn cây hồng, hóa ra anh chàng mải đọc sách, mải nghiên cứu, mải chiết ghép cây với cành. Nhuần nghe chuyện của Ðam say mê đến nỗi quên cả thời gian, quên cả ngoài kia mưa đã tạnh. Tiếng còi tàu hỏa tu-tu-tu dội vang cả không gian khiến Nhuần sực tỉnh. Nhuần đi ra cửa, ngó lên bầu trời, vẻ mặt đầy lo lắng. Ðam vung chăn dậy, cầm tay Nhuần kéo vào vườn hồng. Ðam dùng chiếc kéo lớn, cắt một chùm quả đang ửng hồng đặt vào tay Nhuần, bảo: "Giống hồng quý Bảo Lương ra hoa thơm, kết trái ngọt, cũng như cuộc đời của chúng mình, nếu biết vun đắp".
Như cuộc đời của chúng mình à? Vun đắp à? Anh Ðam nói gì mà xa xôi thế! Nhuần thấy ngạt thở. Trái tim bỗng đập rộn lên. Nhuần vơ vội đôi quang gánh, đi như chạy ra bến đò.
Biết chuyện Nhuần phải lòng Ðam, dì Thắm cấm tiệt không cho Nhuần đi chợ nữa. Dì tham công tiếc việc là một lẽ, nhưng Nhuần đoán trong sâu xa dì sợ mất Nhuần, sợ phải sống một mình, sợ cô đơn! Còn Nhuần qua mấy mùa xuân - hạ - thu - đông, không làm sao xóa nổi vạt hoa cỏ may tím ngát trong trí nhớ, không làm sao quên được hơi thở, mùi mồ hôi và bàn tay thô nhám, nóng ấm của người đàn ông đặt nơi bắp chân mình. Cả cái hôm Ðam bị cảm nữa. Rồi một chiều, Nhuần trốn dì, ra bờ sông ngồi, ngẩn ngơ nhìn dòng sông, bờ bãi, gợi nhớ bao điều. Mùa này hoa cỏ may lại tím ngát triền sông. Thế mà, con đò cứ đậu mãi bên kia, Nhuần thì không dám gọi. Hoàng hôn đang nhuộm tím cả núi non rồi. Ngẩn ngơ nhìn mãi triền sông bên kia tím ngát hoa cỏ may, cứ mơ tưởng chuyện xa xôi đến nỗi không cưỡng nổi lòng mình nữa, Nhuần nhao xuống dòng sông, cứ nhằm hướng vạt hoa cỏ may tím ngát mà bơi tới. Sông Hồng rộng, sức Nhuần đuối dần. Nhuần chới với, có cảm giác đang rơi xuống một cái vực sâu thăm thẳm lạnh toát, rồi rơi vào một miền mây trắng đầy ánh sáng rực rỡ như ánh sáng ban mai. Bỗng một đàn cò trắng - ôi chao, đàn cò trắng của Nhuần đây mà, Nhuần vẫn nhận thế, chúng thường bay từ luỹ tre bên kia xóm Bách Lộc sang cánh đồng nhà Nhuần mỗi mùa cấy cày gặt hái - bay sát vào Nhuần. Chúng dang đôi cánh mềm mại trắng như mây, đỡ lấy thân thể Nhuần, dìu Nhuần đặt lên một thảm cỏ xanh mềm. Nhuần sung sướng, khẽ cựa mình. Và đột nhiên trái tim Nhuần nóng bỏng, bốc cháy rực sáng cả bầu trời. Nhuần nhìn rất rõ hoa cỏ may tím ngát triền sông. Ðam đang ngắt từng bông hoa cỏ may tung lên trời thành muôn cánh sao lấp lánh. Nhuần rùng mình, thấy một bên người bỏng rát. Nhuần từ từ mở mắt. Ngọn lửa đỏ rực đã đánh thức trí nhớ của Nhuần.
- Anh Ðam! - Giọng Nhuần yếu ớt.
- Ô, cô Nhuần đã tỉnh lại rồi! - Ðam cúi nhìn gương mặt nhợt nhạt của Nhuần rồi lại quay ra ngọn lửa.
- Sao em ở đây? - Nhuần cố kéo chiếc mền chăn lên trên ngực.
- May mà tôi kịp bơi ra. Bây giờ thì mọi việc đã qua rồi.
Ðam cầm quả hồng chín mọng, bóc nhẹ lượt vỏ mỏng, đặt vào tay Nhuần. Nhuần ăn chậm rãi. Chao ôi, trái hồng Bảo Lương không hạt ngọt lịm! Vừa ăn Nhuần vừa nghe Ðam thì thầm: "Bây giờ thì Nhuần đã hiểu vì sao tôi không rời bỏ mảnh đất cha ông. Chính mảnh đất này, với cây trái sum suê ngọt lành đã khiến tôi sao lãng bao nhiêu chuyện. Tôi đánh đổi cả tuổi trẻ mới lai tạo được giống hồng Bảo Lương tuyệt vời đấy. Ước là, đôi chân chắc lẳn của Nhuần nay mai sẽ gánh hồng đi chợ...".
Nhuần khóc. Nước mắt làm nhòe cả ngọn lửa. Nhưng Nhuần vẫn nhìn rõ thân hình vạm vỡ của Ðam, thấy rất rõ Ðam đang mải mê gỡ hoa cỏ may trên vạt áo Nhuần vừa hơ khô. Khuya, cái bóng vạm vỡ của Ðam ngả xuống cạnh Nhuần.
Ngoài kia, lá bay xào xạc. Heo may về. Nhuần sung sướng khép nhẹ hàng mi. Hoa cỏ may lại hiện lên tím ngát triền sông.