Hỏa biến - Truyện ngắn của Trần Ngọc Linh

Thị hiếu đã đổi, níu kéo của ông về một dĩ vãng vàng son ngày một tuyệt vọng, khi con ngoảnh mặt, cháu nheo nhóc và tương lai mù mịt.

Cuộc chia tay thật vật vã và đau đớn ấy, phút chốc lóe sáng bởi chiếc ấm trà được hỏa biến. Ðẹp kỳ dị, viên mãn, nó cho ông thanh thản vứt đi những thứ còn lại, nhẹ nhàng giao văn tự bán đất cho con và giã từ nghề tổ. Ông giữ cái đẹp cho riêng mình và hy vọng sống mãn kiếp với báu vật. Nút đã mở.

Tưởng là lối thoát, nhưng không phải.

Khi những lò gốm sụp đổ, cái "chết" mới thật sự diễn ra: nghĩa trang của linh hồn gốm; đổ vỡ ảo tưởng trong tim; chiếc ấm quý bỏ ông mà trở lại nơi nó đã ra đi. Như là biến cải, khai tâm, mở trí.

1. Như mọi bận ông Chén tỉnh dậy từ rất sớm, dậy trước cả những con gà, tuổi già là vậy. Thường thì ông vẫn dậy sớm như thế, nhưng bây giờ vào dịp mấy ngày đầu xuân, người trong nhà ai cũng muốn ngủ rốn thêm chút nữa cho đẫy giấc, có mỗi ông là không chịu được nằm trong nhà mà trằn trọc lại phá đi giấc ngủ của mọi người, thành thử ông phải nhỏm dậy ra sân. Khí xuân lạnh và trong trẻo, giờ này thì chỉ có mỗi ông và khu vườn, thi thoảng mới có tiếng cá quẫy lên đớp bóng trăng trên mặt sông chảy qua trước nhà. Rồi sau đó tất cả lại trở về với không gian tịch lặng.

Ông Chén đứng giữa sân làm vài động tác thể dục người ta vẫn dạy trên vô tuyến vào mỗi buổi sáng cho các cụ già tập. Mươi phút sau, ông lụi hụi vào bếp nhóm một siêu nước để hãm ấm trà tươi. Bao giờ cũng vậy, hãm xong ấm trà là vừa lúc tiếng gà đầu tiên trong thôn gáy. Ông Chén nhấc chiếc ấm tích mang ra ngoài sân, đặt lên bàn rồi rót ra bát. Bát trà nghi ngút khói, hơi nóng bốc lên xua cái lạnh của sương đêm, phả vào khuôn mặt già nua với những đường nứt chân chim và vết đồi mồi. Khuôn mặt của ông lão như được tiếp thêm sinh khí ấm bừng lên. Ngoài sông lại có tiếng cá nhảy lên mặt nước quẫy trăng. Mấy ngày nay mặt sông trước nhà xao động với những tiếng cá quẫy. Năm nào cũng vậy, điềm đó chứng tỏ là nước sông đang cạn dần.

Nhà ông Chén nằm sát bờ sông, suốt ngày nghe tiếng sóng vỗ vào mạn bờ ăn với đất vườn trong nhà bì boạp. Con sông chảy qua làng ông, chảy qua nhà ông vốn lành, chẳng bao giờ có chuyện đổi dòng, sạt bờ, lở đất. Chẳng thế mà đến ông đã bốn đời rồi mà căn nhà vẫn bình yên, kể cả trong mùa lũ. Từ đời ông nội ông đã cho xây kiên cố căn nhà năm gian hai chái, kèo cột đều bằng gỗ lim. Trải qua bao nhiêu thăng trầm, chiến tranh, Tây đến làng càn, Tây bay trên làng vãi bom xuống, căn nhà vẫn chẳng hề hấn gì. Làng ông, nhà ông có con sông bao bọc bình yên hết đời này sang đời khác. Con sông này thuộc một nhánh của sông Nhuệ, qua làng gọi là sông Sét, qua nhà ông nó không có tên, từ đời cụ đến giờ sông liền kề nhà nên coi như một người thân, mỗi dịp có giỗ bao giờ người nhà cũng mang ra một đĩa xôi gấc, một khoanh giò lụa thả xuống dòng sông, lệ này có từ đời cụ tam đại. Ông Chén nghe các cụ trong nhà kể lại: ngày xưa cụ tam đại khi mới chuyển đến đây sinh sống bị làng coi là ngụ cư nên cho ở ngoài bãi bên sông. Hàng ngày xuống sông đánh bắt cá làm kế sinh nhai, bữa được bữa no chứ không có nghề cố định. Rồi trong một ngày xuân, có cụ đồ già đi qua nhà ghé vào xin hớp nước, uống chưa xong bát chè tươi, cụ đồ bảo: "Xem thế đất nhà anh ứng vào quẻ địa trạch sư, sau này ắt làm thầy thiên hạ!". Cụ tam đại nghe xong mới quyết chí đi học lấy nghề gốm bên Bát Tràng đem về làng. Ông cụ có hoa tay, lại được thầy yêu truyền hết nghề cho, đem nghề về đến làng chỉ chuyên làm ấm đất bán, tuyệt nhiên không làm thêm một món gì khác. Ấm của ông cụ không khác gì so với hàng Tầu nên được nhiều người biết đến, hàng đặt làm không xuể. Người trong làng thấy lợi xin đến học, học trò đông nườm nượp. Có nghề gia truyền, các đời con cháu đều lấy việc nặn ấm làm kế sinh nhai. Ðến đời ông Chén, ít người uống trà, nên quy mô lò gốm bị thu hẹp lại. Hồi vào hợp tác xã, ông Chén, cho mấy đứa con ra làm, lò gốm tan hoang, từ bốn lò còn một, trước một năm đốt lò sáu lần, đến lúc đó còn hai. Hồi mới khoán, ông Chén làm thêm chuồng lợn tăng gia chỗ gần mép sông trước của nhà, định bụng bán lứa lợn này đi dựng lại một lò gốm nữa, nhưng khi ông đủ tiền xây lò thì chẳng còn ai uống trà nữa, nghề làm ấm thành dĩ vãng, cái lò lành lặn duy nhất của ông giờ bỏ hoang. Các con ông đứa lên vùng kinh tế mới, đứa đi buôn. Mỗi bận ông ra thăm lò gốm hoang thấy cả một nghĩa địa những mảnh ấm đất nung bị vỡ. Cái mất nắp. Cái mất vòi. Cái không quai. Cái thủng trôn. Cái mẻ lợi. Xếp chồng lên nhau. Méo mó. Sứt mẻ đến là dị dạng.

Ðến lượt gà gáy thứ hai, trời mới tang tảng sáng, vài ảnh hồng lớt phớt nhú lên những rặng tre bên kia bãi sông. Ông Chén vào nhà nhấc chiếc đàn Nguyệt treo trên tường chỗ gần bàn thờ mang ra ngoài sân. Ông dạo một bản Chèo cổ, bản Xuân tình tưởng vọng:

Ðêm qua đốt đỉnh nhang trầm
Khói hương tưởng những tri âm bên mình

Tiếng đàn văng vẳng trong một ngày sớm, trời vẫn còn dở dở ương ương nhìn chưa rõ mặt người. Ông Chén nhấn mạnh mấy nốt, tiếng đàn uốn éo não nùng như một tiếng khóc. Bên cạnh ông, bát chè tươi còn một phần ba đã nguội lạnh, đôi vai gầy gầy của ông đã thấm ướt sương sớm. Ngoài sông lại có con cá nào vút lên khỏi mặt nước như cố tham hớp lấy bóng trăng đang nhạt dần sắp lặn đi nhường cho ánh dương buổi sớm . Ông Chén đi được già hai phần ba bản đàn thì cậu con trai cả đã ngồi cạnh từ bao giờ phá tan mấy tiếng đàn dở cuối cùng. Anh hất bát nước trà nguội lạnh ông đang uống dở xuống đất vườn, rồi tự rót cho mình một bát mới. Trà ngấm, đặc quánh, đỏ quạch. Anh con trai nhăn mặt, uống một ngụm rõ đầy hết nửa bát, súc miệng òng ọc rồi nhổ toẹt. Ðất háo nước hút nhanh, chỉ vương lại ít bọt trắng đọng trên mặt, nhưng rồi nhanh chóng tan biến đi. Anh bảo: "Trà đặc như thế này uống vào để thủng dạ dày à?". Anh đặt chiếc bát vẫn còn một nửa xuống, bát trà nguội dần. Ông Chén dựng đàn vào mép bàn quay sang anh bảo: "Lần sau anh có thích uống thì lấy một bát riêng ra, thầy đang uống dở". Anh con trai chống chế: "Nhưng trà nguội tanh rồi, thầy uống vào chỉ tổ đau bụng". Anh lại nói tiếp: "Thế chuyện hôm qua thầy nghĩ đến đâu rồi?". Ông Chén bảo: "Thầy đã nghĩ rồi, bốn cái lò gốm đó, tuy bỏ hoang từ lâu, nhưng dù sao bán đi cũng tiếc. Di vật của cụ tam đại, nó là kế sinh nhai cho cả nhà mình suốt mấy đời liền, ai lại làm cái việc ngắt ngọn bỏ rễ đi cơ chứ". Anh con trai bảo: "Nhưng nếu không bán thì con lấy đâu ra tiền để làm ăn, để nuôi các con con, cháu của thầy, người sau này hương hỏa cho cả dòng họ. Mà thầy thử nghĩ xem, mấy cái lò gốm để hoang nghĩ cũng tiếc, dựng lại thì không được, bây giờ chẳng ai dùng ấm nhà mình. Người thành phố chỉ dùng ấm Tầu, ấm Tây, đẹp hơn nhiều, dẫu đắt vẫn cứ mua, bây giờ ai lại đi tha lôi mấy thứ cát chẳng ra cát, sành chẳng ra sành về nhà cơ chứ, rác nhà ra! Bây giờ cứ để như thế chỉ béo phường mèo mả gà đồng lôi nhau vào hú hí, còn phải tội với các cụ hơn. Vả lại, bán đi để giúp cho con cháu sinh nhai, tồn tại; con nghĩ nơi chín suối các cụ cũng thuận lòng". Ông Chén cầm cây đàn vào nhà nói vọng ra sau: "Con để thầy nghĩ thêm đã".

2.

Ông Chén vợi từ thẩu rượu mơ ngâm năm ngoái ra đầy một nài con con. Ông cầm nài rượu băng qua vườn, ra bờ sông, nơi đó ông đã bày một chiếc mâm nhỏ, trên đó để một đĩa xôi gấc và khoanh giò.

Ông thắp ba nén hương, quay mặt ra sông lẩm nhẩm khấn.

Khấn xong, ông thả xôi và giò xuống dòng sông, nài rượu ông đổ một nửa rồi dốc ngược, ngẩng cổ tu một hơi cạn. Ông Chén ngồi bệt xuống nền đất phù sa, người bốc hỏa, mặt đỏ lựng, đôi mắt đục vằn lên những mạch máu li ti mầu đỏ. Giờ đã về chiều, nước sông loang loáng một dải đỏ ối chạy dọc ở giữa dòng. Ông Chén nhìn con sông và nghĩ tới hoàn cảnh hiện tại của mình. Anh con trưởng vốn tính ỷ lại nên sớm nhắm vào mấy lò gốm bỏ hoang của nhà. Mấy năm nay giá đất tăng, người muốn mua, kẻ muốn bán, bốn cái lò gốm bỏ hoang của ông lại thành một thức ngon trong những cặp mắt hau hau của đám người ngoài phố, trong đó có cả thằng con trưởng. Chẳng thà tự ông đập vụn nó ra chứ nhất quyết không bao giờ bán. Trên nhà có tiếng trẻ con khóc - đứa cháu đích tôn mới sinh chưa đầy hai tháng. Thằng bé đến kháu khỉnh, con mẹ nó tốt sữa nên càng ngày càng bụ bẫm. Nhiều lúc sờ đôi má hồng hồng lúng búng tưởng chỉ toàn sữa trong đó thôi, bất giác ông quên hết những ngày tháng tuổi già, lâng lâng một cảm giác hạnh phúc như thể ông chứ không phải ai khác được sinh ra lần thứ hai trên cõi đời này. Trên sân gạch, hai đứa cháu gái đang chơi chuyền, quả bưởi non thoăn thoắt trong tay chúng:

Chuyền một / Lá lốt / Lá khoai / Con trai / Con gái / Con nhện / Giăng tơ...

Làm ông thì không bao giờ muốn thấy cháu mình phải thiếu thốn một thứ gì cả. Ông Chén như đang bị trói buộc bởi thứ tình cảm hữu hình của cuộc sống. Trên nhà lại vọng xuống tiếng reo của hai đứa trẻ, hình như bà cụ nhà ông vừa đi chùa về. Khép cổng gỗ lại, bà cất tiếng: "Thằng cả đâu, xem thầy mày ở đâu gọi về để xem ngày mai bàn giỗ cụ tam đại như thế nào".

"Mai là ngày giỗ cụ tam đại, đến hôm sau thì nước sông rút cạn". Ông Chén sực nghĩ. Năm nào cứ sau rằm tháng giêng một ngày là quãng sông trước nhà ông rút cạn đi trong vòng ba canh giờ theo một chế độ thủy triều đặc biệt trong mùa nước cạn, lúc đó người ta có thể thoải mái đi qua sông hoặc đi ra giữa sông mà không sợ bị lấm quần. Ông Chén nghĩ đến chuyện đốt lò gốm ngày xưa, thầy ông cũng đã từng dẫn ông đi kiếm đất sét ở giữa lòng sông. Chiếc ấm nào mà được làm bằng đất sét giữa lòng sông sẽ đặc biệt ở chỗ, dù có chế nước sôi nóng đến cỡ nào thì bên ngoài da vẫn mát như thường. Một năm được mẻ ấm đất đó là đủ tiền rượu cả năm.

Giỗ cụ tam đại xong, như lệ thường, ông Chén đích thân mang một đĩa xôi gấc và một khoanh giò lụa đêm thả xuống dòng sông.

Ðêm hôm sau, đúng giờ Tí, ông Chén chờ mọi người trong nhà đi ngủ hết mới nhỏm dậy ra ngoài thắp một bó đuốc và xuống bãi chờ nước rút. Khói đuốc rơm con cúi tẩm dầu, trắng khét lẹt bốc cao lên hòa vào ánh trăng tàn ngày mười sáu. Ðêm tối, ánh đuốc như hú gọi trăng về, bóng ông Chén lủi thủi như con bọ ngựa già dật dờ vung những cái càng mệt mỏi chém dứ vào trong không khí.

Cuối giờ Tí chuyển sang giờ Sửu, ông Chén bước một chân xuống thăm dòng. Nước còn xâm xấp gót chân. Sang giờ Sửu, nước cạn hẳn, ông Chén bước xuống lòng sông, một tay cầm bó đuốc, một tay cầm cái mai có buộc chằng thêm một cái xô nhỏ. Lòng sông cát mịn như nhung, mát mẻ vô cùng. Ra đến giữa lòng, những cơn gió lạnh lách qua người ông lao vút đi nhanh theo đường chảy của dòng nước ngày thường. Ông phóng một nhát mai xuống thăm chỗ đất tốt. Tìm được chỗ ưng ý, ông Chén xỉa mai xuống nạo đi lớp đất cát phù sa trên bề mặt. Thường muốn tìm đất sét tốt phải đào sâu từ một đến một mét rưỡi, càng sâu càng tốt. Ngọn đuốc cắm trên nền đất phù sa bốc lên những làn khói trắng. Ông Chén xắn những nhát mai chắc nịch. Giờ nếu ai có mặt chắc lầm tưởng ngay ông là một phu đào huyệt khốn nạn nào đó bị cuộc sống bình thường ruồng bỏ.

Ðào xuống đến khoảng gần hai thước ta, ông Chén soi đuốc vào thấy lộ rõ lên một vỉa đất mầu đỏ quạch, sờ tay vào thấy mát lạnh, biết là đất tốt, ông lấy đầy xô con rồi ngoắc lên mai ra về. Ði một quãng, ông quay lại nhìn thấy huyệt đất sét vừa đào sâu giữa lòng sông, sợ có trẻ chăn trâu lội tắm thụt xuống đó phải tội bèn quay lại lấp đất cho bằng rồi mới quay về. Khi lấp xong, con nước bắt đầu lên ăn tới gót chân. Ông Chén rảo bước về, gần lên trên bãi thì nước đã đến đầu gối, lòng sông lại lành lặn như xưa, nhìn xuống sông, dòng nước sóng sánh ánh trăng cứ thế trôi một cách vô tư và bình thản, mặt sông lăn tăn những con sóng tựa hồ như chưa bao giờ bị một thứ gì xâm phạm đến.

Hôm sau ông làm đất, gạn cát ra còn lại những tảng đất thuần sét. Ông Chén đánh tơi, nhào kỹ, ngày này qua ngày khác, say sưa với những bí quyết gia truyền mà chỉ có người nào đứng đầu dòng nghề mới được truyền lại cho như pha thêm một số kim loại dưới dạng tán ra thành cám trộn cùng với đất để khi nung lên đất có độ rắn và đanh như kim loại. Chính nhờ bí quyết này mà xưa kia ấm của nhà ông sản xuất ra không khác so với ấm Tầu là mấy, đến nỗi ngay kể cả người tinh đôi lúc vẫn nhầm.

Ông Chén lục lại xưởng gốm, dựng lại bàn xoay, rồi bắt tay vào chế tác. Số đất sét lấy được dưới lòng sông vừa đủ cho ông Chén chuốt được mười bẩy chiếc ấm đất đủ hình dạng, nào quả sung, quả  vả,  quả  na,  ấm  hình  đốt  trúc... Thấy ông chuốt gốm, người con trai cả biết là thầy mình định đốt lò, bèn ra sức ngăn cản. Vận động gia đình không được, anh vận động cả chính quyền lấy lý do ô nhiễm môi trường để gây sức ép. Sau ông Chén làm căng lên dọa tự vẫn, chuyện mới thôi, nhưng anh con giận, gửi vợ con về nhà ngoại và không nói với ông một câu nào. Nhà quạnh tiếng trẻ con, ông Chén buồn lắm, suốt ngày ông uống rượu canh những chiếc ấm đất đang phơi nắng cho ráo nước.

Ngày đốt lò, ông Chén làm mâm cơm, không quên thả xuống lòng sông một đĩa xôi gấc và khoanh giò. Lò đốt bằng củi và than theo lối thủ công, cỏ bên hai bờ sông vàng rụi lá. Ðốt năm ngày năm đêm, chờ một đêm cho lò nguội là sáu, ông Chén mới dỡ lò. Những chiếc ấm mầu men đỏ quạch, đanh lại như sắt. Ông Chén thấy tự hào về ngón nghề của mình, mấy chục năm rồi vẫn chưa bị nhụt. Ngạc nhiên hơn nữa là trong số mười bảy cái ấm thì có một cái bị hỏa biến.

Chiếc ấm đất bị hỏa biến hình quả vả so với những chiếc ấm trong mẻ này hình dáng không có gì đặc biệt, nhưng trong nghề làm gốm họa hoằn lắm trong cuộc đời của một người thợ mới có được một vật bị hỏa biến. Ðó hoàn toàn do run rủi, cơ may của số phận. Duyên của nghề, duyên của ngọn lửa bén vào, lớp men gặp nhiệt lạ thì được hỏa biến ram rám mầu mận chín, lấy tay búng vào thân ấm nghe leng keng như tiếng ngọc, xoa nắp và miệng ấm vào nhau thì tiếng phát ra như tiếng kim loại, đổ nước sôi vào, xoa tay bên ngoài vẫn mát lạnh. Ông Chén lấy làm vui, vì cả cuộc đời từ lúc được làm thợ cả đến giờ lần đầu tiên mới có được một chiếc ấm hỏa biến.

Một buổi chiều uống rượu say, đắc ý, ông ném hết mười sáu chiếc ấm kia xuống sông, chỉ giữ lại nguyên chiếc ấm hỏa biến. Ông đã nhắn người bạn ở trên Thái Nguyên gửi cho ít trà thượng hạng để hôm nào cuối xuân, uống tuần trà đầu tiên với chiếc ấm thượng hạng của mình.

3.

Một buổi chiều, sau bữa cơm chỉ có ba người, ông Chén, vợ ông và anh con trai cả. Anh con trai vẫn im lặng, anh chưa chịu đón vợ con về để phản đối chuyện ông Chén đốt lò không cho anh bán. Ông Chén biết vậy, thời gian này không có lũ trẻ con quấn chân, ông lấy làm buồn lắm. Niềm hứng thú có được chiếc ấm quý trôi qua nhanh chóng để lại những ưu tư của tuổi già về một gia đình ràng buộc nhau bởi niềm hạnh phúc không trọn vẹn. Cơm nước xong xuôi, ông đem văn tự nhà đưa cho người con cả: "Cuối cùng, vừa rồi thầy cũng đã có được một chiếc ấm hỏa biến, điều mà một đời làm gốm phải mơ ước. Nghề này coi như là mất, bốn lò gốm con toàn quyền sử dụng, muốn bán, muốn phá tuỳ con. Nhờ nó mà các con lập kế sinh nhai được thì tổ tiên cũng không trách. Mai con đón vợ con về đi". Anh con cả nhanh tay thu lấy văn tự đất như sợ ông Chén chuyển ý. Ông Chén không nói gì, tay vẫn mân mê chiếc ấm đất hỏa biến, chiếc ấm hình quả vả, độc ẩm. Bàn tay sần sùi của ông xoa lên chiếc ấm. Bất giác, ông cảm thấy gai gai nơi bàn tay, cảm giác đó lan nhanh từ bàn tay lên tới trái tim, làm ông nhói lại.

Một ngày cuối xuân, trên chiếc thuyền giữa dòng sông, được neo cứng bằng một sợi dây chằng quanh một gốc cây trên bờ, ông Chén ngồi trên mạn thuyền pha một ấm trà. Trà Thái Nguyên thượng hạng mới được bạn ông chuyển xuống. Chiếc ấm hỏa biến lần đầu được dùng. Trà vừa hãm được khoảng hai phút bỗng có tiếng "ầm" một cái. Ông Chén ngoảnh lên, bốn cái lò gốm anh con trai ông vừa bán mấy hôm trước bây giờ đang bị những chiếc xe ủi nặng nhề chồm lên, san vùi xuống sông.

Trong khoảng một tích tắc giữa tiếng ầm đổ của lò gốm và sau đó là một sự im lặng, chỉ có vài tiếng bì boạp vỗ vào mạn thuyền của những làn sóng con là tiếng rơi tõm của chiếc ấm hỏa biến xuống lòng sông. Ông Chén đánh rơi chiếc ấm trong sự sững sờ, hết ngoảnh về phía bờ nơi những chiếc lò gốm tồn tại giờ lổn ngổn là đống gạch vụn, rồi lại nhìn dòng sông nơi tiếng ấm hỏa biến vừa lặn xuống. Ông Chén lịm người đi, định nhoài người lao xuống dòng sông thì trên bờ có tiếng cháu khóc. Sau đó là tiếng con dâu ông dỗ bằng một câu Kiều

Ðã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

...

Dòng sông vẫn cứ trôi đi. Ông Chén nhìn đống gạch vụn trên bờ, nơi đó giờ là nghĩa trang của những chiếc ấm hỏng. Méo mó. Sứt mẻ đến dị dạng.

Ông Chén lần theo dây neo thuyền lần lên bờ.

Có thể bạn quan tâm