Bình luận - phê phán

Hỗ trợ cho các "phim độc lập" lành mạnh

Ðúng với cái tên của xu hướng làm phim này, các nhà làm phim độc lập phải tự tìm kinh phí, tự lo quảng bá, phát hành,... Nhưng điều quan trọng là họ độc lập trong quá trình tổ chức - thực hiện một dự án điện ảnh với tư cách là hoạt động sáng tạo cá nhân. Cho nên, với tác phẩm lành mạnh của xu hướng này, nên chăng cần có sự hỗ trợ để tác phẩm đến với rộng rãi công chúng?

Từ những năm đầu thế kỷ 20, lịch sử điện ảnh thế giới đã ghi nhận đóng góp của các bộ phim theo xu hướng độc lập (Independent film). Các bộ phim thuộc xu hướng này được coi là bứt phá, cách tân điện ảnh của một số cá nhân không bị chi phối bởi doanh thu. Trong cuốn Lịch sử điện ảnh thế giới, hai nhà phê bình Ð.Brốt-oen (D.Brodwell), K.Thôm-sơn (K.Thompson) cho rằng, những hãng phim độc lập đầu tiên xuất hiện vào những năm 1909 - 1915 nhằm đáp trả sự thống trị độc quyền của Ê-đi-xơn (Edison) và họ được cho là nhóm "những người hoạt động độc lập". Thành viên của nhóm này về sau thành lập một nhóm độc quyền mới, ổn định hơn, làm nên "kinh đô" điện ảnh Hô-ly-út (Hollywood). Như vậy, từ một nhóm phải đấu tranh để tránh sự kiểm soát của những tổ chức độc quyền, "những người hoạt động độc lập" đầu tiên của lịch sử điện ảnh lại trở thành lực lượng độc quyền, kiểm soát toàn bộ hệ thống phát hành và chiếu phim. Và tất yếu theo quy luật, thế hệ những người làm phim độc lập thứ hai tiếp tục ra đời, được hiểu là những người sản xuất phim không theo công thức và sự chi phối của hệ thống Hô-ly-út mà đứng đầu là sáu hãng phim lớn (Big Six) gồm: Warner Bros, Universal Pictures, Paramount, Walt Disney, 20th Century Fox và Columbia. Có thể coi họ là những cá nhân đề cao tính sáng tạo, và mạo hiểm khi đi ngược đường với sáu hãng phim lớn. Không chỉ tại Mỹ, làn sóng điện ảnh độc lập còn lan rộng khắp thế giới như: Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc... Tại Việt Nam, phim độc lập cũng không còn là một khái niệm mới, được hiểu là những bộ phim không sản xuất bằng kinh phí đầu tư của Nhà nước, có lối làm phim độc đáo, có một số sáng tạo mới. Trong cuốn Từ vựng điện ảnh (NXB Văn hóa Sài Gòn năm 2007, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh năm 2011), phim độc lập được định nghĩa: "là những bộ phim có kinh phí thấp, không do các hãng phim lớn sản xuất".

Từ thực tiễn của phim độc lập trong những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy, điều làm nên nét riêng của phim độc lập có lẽ không phải ở kinh phí thấp mà nằm ở sự sáng tạo mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà làm phim, ở cách kể chuyện độc đáo và mới mẻ khi họ không bị chi phối bởi các quy tắc cũ, hay các quy tắc để có doanh thu tốt nhất. Thế nhưng, nét riêng này đã khiến phim độc lập để lại một số dấu ấn về mặt nghệ thuật và khiến người xem cũng như những nhà phê bình có xu hướng đánh giá chúng thành công ở khía cạnh tinh thần nhiều hơn, như: Trần trụi (Naked) của đạo diễn M.Lây (Mike Leigh), Sông Tô Châu (Sozhou River) của đạo diễn Lou Ye, Người tốt ở Tam Hiệp (Still life), Kẻ móc túi (Pickpocket) của đạo diễn Giả Chương Kha... Và nhiều bộ phim độc lập không chỉ được đánh giá tốt về chất lượng nghệ thuật, mà còn cả trong doanh thu. Phim Triệu phú khu ổ chuột (Slumdog Millionaire) của đạo diễn Ð.Boi-lơ (Danny Boyle) là phim với chi phí chỉ 15 triệu USD nhưng thu về 378 triệu USD, chiến thắng ở 8/10 hạng mục được đề cử Ô-xca (Oscar) 2009, giành bảy giải BAFTA, bốn giải Quả cầu vàng và năm giải Lựa chọn của các nhà phê bình - Critics' Choice Awards. Phim Công binh (The Hurt Locker) của nữ đạo diễn K.Bai-gơ-lâu (Kathryn Bigelow) cũng không kém cạnh khi chỉ với kinh phí 11 triệu USD song đã vượt qua được gã "khổng lồ" Thế thân (Avatar) với kinh phí gần 300 triệu USD để nhận sáu giải thưởng, trong đó có hai giải quan trọng nhất là Ðạo diễn xuất sắc nhất và Bộ phim xuất sắc nhất năm của giải Oscar năm 2010. Phim Nâng bước tài năng (Good Will Hunting) của đạo diễn, biên kịch, họa sĩ, nhiếp ảnh gia, nhà văn người Mỹ G.Xanh (Gus Van Sant) cũng chỉ có kinh phí 10 triệu USD nhưng doanh thu gấp hơn 20 lần (gần 225 triệu USD). Lịch sử điện ảnh Hàn Quốc cũng ghi nhận thành công của bộ phim độc lập thuộc thể loại tài liệu như Ðối tác tri kỷ (Old Partner) của đạo diễn Li Chung Ri-un (Lee Chung - ryoul), sản xuất năm 2009. Bộ phim này gây tiếng vang lớn đến mức giới truyền thông Hàn Quốc đã phải gán cho nó tên gọi "Hội chứng Old Partner". Một điểm thú vị nữa là mặc dù kinh phí sản xuất phim chỉ hơn 130.000 USD nhưng bộ phim đã bán được hơn 2,9 triệu vé.

Tại Việt Nam, một số bộ phim độc lập được đánh giá tốt và được trao giải thưởng tại các liên hoan phim quốc tế. Một sự kiện cần nhắc tới là phim Ðập cánh giữa không trung thuộc dòng phim độc lập của nữ đạo diễn Nguyễn Hoàng Ðiệp. Sau khi trở về từ các liên hoan phim quốc tế, bộ phim "cập bến" tại Liên hoan phim quốc tế Hà Nội lần thứ ba vừa qua; và sự đón nhận nồng nhiệt của khán giả khiến chính đạo diễn Nguyễn Hoàng Ðiệp cũng bị bất ngờ. Bởi theo chị, lâu nay một bộ phim được tiếng là phim nghệ thuật thì thường bị xếp xó, làm sao có chuyện bán vé. Thế nhưng Ðập cánh giữa không trung với một câu chuyện rõ ràng qua cách kể khéo léo, tư duy điện ảnh mới mẻ, tinh tế của nữ đạo diễn đã chạm vào trái tim của khán giả trong nước. Ba suất chiếu chật kín khán giả là tín hiệu đáng mừng, dẫu biết là vé miễn phí nhưng sự quan tâm của công chúng dành cho một bộ phim Việt như thế cũng đã là đáng quý. Cùng với Ðập cánh giữa không trung, bộ phim tài liệu sản xuất theo lối độc lập Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng của đạo diễn Nguyễn Thị Thắm cũng trở thành hiện tượng khi thu hút nhiều khán giả tới rạp. Trước đó, điện ảnh Việt Nam cũng đã ghi nhận thành công của nhiều bộ phim thuộc dòng độc lập như: Bi, đừng sợ (đạo diễn Phan Ðăng Di), Mùa len trâu (đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh), Chơi vơi (đạo diễn Bùi Thạc Chuyên), xa hơn nữa là Ba mùa (đạo diễn Tô-ni Bùi), Mùi đu đủ xanh (đạo diễn Trần Anh Hùng),...

Ðể đưa được câu chuyện lên màn ảnh, các nhà làm phim độc lập phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, có khi là khó khăn thấy trước, có khi là khó khăn phát sinh không thể lường trước. Nỗi lo về kinh phí sản xuất, kinh phí phát hành, rạp chiếu,... rồi nỗi lo khán giả không mặn mà, nhất là với dòng phim độc lập là những thử thách không dễ vượt qua. Thực tế, các bộ phim độc lập ở Việt Nam trong thời gian qua thường là của những nhà làm phim trẻ, dám chấp nhận thử thách nhưng chỉ một số ít được biết đến, còn phần lớn là chiếu nhằm mục đích học hỏi kinh nghiệm, chiếu cho bạn bè xem, hoặc chiếu qua in-tơ-nét. Ðơn cử như Ðập cánh giữa không trung là phim hiếm hoi đến được với công chúng, nhưng để làm được điều này, đạo diễn Nguyễn Hoàng Ðiệp phải tìm cách gặp gỡ, thuyết phục từng nhà sản xuất quốc tế để xin từng khoản kinh phí, dù nhỏ. Ðược biết, hiện chị cũng đang chật vật tìm nguồn để tự phát hành ra rạp trong đúng đợt phim Tết năm 2015 này. Hay như với Chuyến đi cuối cùng của chị Phụng, đạo diễn Nguyễn Thị Thắm phải nhờ đến sự hỗ trợ của các quỹ phim ảnh nước ngoài, sau khi bị từ chối bởi các nhà sản xuất trong nước. Nhưng kinh phí được hỗ trợ cũng không nhiều, cho nên quá trình làm phim bị ngắt quãng, phim quay xong từ năm 2010 mà tới năm 2013 mới cơ bản hoàn thành. Thậm chí, đạo diễn còn có lúc phải đi... ngủ nhờ để có kinh phí hoàn thiện bộ phim! Bên cạnh nỗi lo về kinh phí sản xuất, phát hành,... còn nỗi lo vì thiếu hụt các ê-kíp làm phim thật sự chuyên nghiệp, giỏi chuyên môn, bởi đơn giản là một đạo diễn dù có tài giỏi đến đâu cũng khó có thể một mình hoàn thiện tốt một tác phẩm điện ảnh. Hiện, các đạo diễn phim độc lập Việt Nam thường kiêm luôn khâu sản xuất (bao gồm: phát triển dự án, đi tìm tài trợ, phát hành,...), dẫn tới ảnh hưởng thời gian hoàn thành phim và chất lượng phim. Ðược biết, thường thì để hoàn thành một bộ phim độc lập với thời lượng khoảng 90 phút, đạo diễn phải mất ba năm làm việc. Thế nên, nếu một mình lo cả khâu sản xuất, lẽ đương nhiên, một dự án phim sẽ phải nằm chờ, hoặc là đạo diễn phải tự xoay kinh phí, rồi quay ngắt quãng từng phân cảnh. Về vấn đề này, đạo diễn Phan Ðăng Di từng có lần chia sẻ rằng, mô hình lý tưởng để sản xuất một bộ phim độc lập là đạo diễn chỉ nên tập trung làm công việc sáng tạo, nhà sản xuất chỉ lo về tài chính, tổ chức. Theo anh, ở nước ta chưa có nhà sản xuất chuyên nghiệp cho phim độc lập, các nhà sản xuất chỉ mới dừng lại ở công việc tổ chức sản xuất. Ðể đảm nhiệm được trọn vẹn một quy trình sản xuất đúng nghĩa từ phát triển dự án, đi tìm tài trợ, phát hành phim thì hầu như chưa có ai...

Qúa trình làm phim như vậy khá bấp bênh, luôn có khả năng đối mặt với rủi ro, song làm phim độc lập lại tạo điều kiện để nghệ sĩ tư duy sáng tạo độc lập, xác lập quan điểm thẩm mỹ, quyết định ngôn ngữ điện ảnh riêng,... như tác giả Vũ Ánh Dương nói: "Bạn chọn làm phim độc lập là bạn độc lập với những thứ ngoài mình để đặt cái tôi sinh động hấp dẫn vào trung tâm sáng tạo. Bạn luôn có hơn một sự lựa chọn để thực hiện những cam kết thẩm mỹ của mình, bạn không thành nạn nhân thường xuyên của cái gọi là kế hoạch sản xuất hay phương tiện kỹ thuật". Với lợi thế về sáng tạo, một bộ phim độc lập có cơ hội tiếp cận gần hơn với công chúng, bởi mỗi bộ phim theo xu hướng độc lập lành mạnh luôn là kết quả của các suy nghĩ mới mẻ, các câu chuyện gần gũi với cuộc sống,... được kể qua lăng kính của những người trẻ tuổi, giàu nhiệt huyết. Vì thế, có lẽ đã đến lúc nên hình thành một cơ chế phù hợp để nhân rộng, phổ biến các bộ phim có chất lượng nội dung - nghệ thuật tốt thuộc xu hướng phim này đến với công chúng, mà trước mắt là có rạp chiếu chấp nhận rủi ro dành suất chiếu, phòng chiếu riêng. Sẽ là vô cùng phí phạm nếu những sáng tạo xuất phát từ tài năng và đam mê của những người làm điện ảnh lại không có khán giả mà chỉ để xếp xó hoặc phát trên YouTube. Ðồng thời, cần có những nhà sản xuất chuyên nghiệp để phim độc lập lành mạnh có điều kiện phát triển, góp phần làm mới mẻ hơn diện mạo điện ảnh nước nhà và đưa điện ảnh Việt Nam hòa nhập hơn nữa với điện ảnh thế giới.

Có thể bạn quan tâm